Thứ 2, 12/04/2021 - 13:00
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Ghi nhận nhiều kết quả nổi bật trong công tác quản lý tài nguyên nước

Trong giai đoạn 2016-2020, công tác quản lý tài nguyên nước đã có những chuyển biến về chất, ghi nhận nhiều kết quả nổi bật.

Về hợp tác, chia sẻ nguồn nước xuyên biên giới: Đề án hợp tác bảo vệ, quản lý khai thác và sử dụng các nguồn nước liên quốc gia đang được hoàn thiện, tuy nhiên do Việt Nam nằm ở phía hạ lưu của hầu hết các hệ thống sông, nên rất khó đề xuất yêu cầu các quốc gia phía thượng nguồn hợp tác chia sẻ thông tin, số liệu về tài nguyên nước.

Về đảm bảo an ninh nguồn nước: Trong điều kiện nguồn nước ngày càng khan hiếm, nhu cầu sử dụng nước và sự suy giảm chất lượng nước ngày càng gia tăng, thích ứng với các tác động của biến đổi khí hậu gây ra cho tài nguyên nước, hiện Bộ đang xây dựng đề án đảm bảo an ninh nguồn nước quốc gia.

Về quy hoạch tài nguyên nước: Nhiệm vụ lập quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định số 1748/QĐ-TTg ngày 04/12/2019, đang triển khai thực hiện lập quy hoạch; Nhiệm vụ “ Quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước đến năm 2030 tầm nhìn đến 2050”, đang hoàn thiện theo ý kiến các Bộ, ngành liên quan.

Đối với quy hoạch tổng hợp lưu vực sông liên tỉnh, nguồn nước liên tỉnh: Hoàn thành lập quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Bằng Giang - Kỳ Cùng; Sesan; Srepok (đang thực hiện điều chỉnh để phù hợp với quy định của Luật Quy hoạch) dự kiến trình Thủ tướng  Chính phủ phê duyệt trong năm 2020; đang triển khai lập quy hoạch tổng hợp các lưu vực sông đến năm 2030 tầm nhìn đến 2050 các lưu vực sông Hồng - Thái Bình, sông Cửu Long; đang thực hiện lập nhiệm vụ quy hoạch tổng hợp các lưu vực sông đến năm 2030 tầm nhìn đến 2050 của các lưu vực sông Đồng Nai, Ba, Vu Gia - Thu Bồn, sông Hương, sông Trà Khúc, Kôn - Hà Thanh, sông Mã, sông Cả.

Công tác quy hoạch tài nguyên nước đã được chú trọng triển khai song chưa đáp ứng yêu cầu quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên nước, an ninh nguồn nước, chưa đạt được mục tiêu đề ra.

Về xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật về tài nguyên nước: Đã hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy định kỹ thuật, định mức kinh tế kỹ thuật, đơn giá và thông tư hướng dẫn việc quản lý tài nguyên nước.

Về triển khai thực hiện chính sách tài chính trong lĩnh vực tài nguyên nước: gồm việc thu, quản lý, sử dụng tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước; chính sách ưu đãi các hoạt động đầu tư cung cấp nước sinh hoạt, thu gom, xử lý nước thải và các hoạt động sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, cải thiện và nâng cao chất ượng nước; chính sách thu hút huy động các nguồn lực tài chính từ mọi thành phần trong xã hội; chính sách bảo đảm hài hòa giữa trách nhiệm và lợi ích, giữa khai thác và bảo vệ tài nguyên nước chính sách xã hội hóa các hoạt động bảo vệ tài nguyên nước.

Về tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước: ngay khi Nghị định số 82/2017/NĐ-CP có hiệu lực thi hành, tính đến nay, số thu NSNN từ tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước ở trung ương gần 10.159 tỷ đồng.

Về thực hiện chính sách ưu đãi các hoạt động sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả: để triển khai thực hiện Nghị định 54/2015/NĐ- CP của Chính phủ, hiện Bộ đang triển khai thực hiện dự án “Phân loại mức độ khan hiếm nước, thiếu nước và đề xuất áp dụng các biện pháp tích trữ nước, tiết kiệm nước, hạn chế khai thác, sử dụng nước theo từng cấp độ khan hiếm nước, thiếu nước”. Kết quả của dự án sẽ thành lập được bản đồ mức độ khan hiếm, thiếu nước cho 11 lưu vực sông tỷ lệ 1:200.000 cơ sở để công bố vùng khan hiếm nước ngọt.

Về xây dựng Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050: đang chuẩn bị Điều tra, đánh giá, tổng kết kết quả thực hiện Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020 và đề xuất nội dung xây dựng Chiến lược đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050”.

Tuyên truyền phổ biến các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tài nguyên nước và các quy định của pháp uật về tài nguyên nước: Dưới các hình thức (Trên các phương tiện thông tin đại chúng, các trang thông tin điện tử, xây dựng các phim, ảnh, băng đĩa các chương trình hỏi đáp, đối thoại, tọa đàm, phỏng vấn, phóng sự..; Tổ chức các sự kiện hưởng ứng Ngày nước thế giới. Tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tài nguyên nước). 

Tăng cường thanh tra, kiểm tra hoạt động khai thác sử dụng tài nguyên nước và xả nước thải vào nguồn nước: Hàng năm, đều xây dựng kế hoạch và tiến hành kiểm tra định kỳ tình hình triển khai, thi hành pháp luật về tài nguyên nước, việc chấp hành các quy định của pháp luật về tài nguyên nước tại một số cơ sở khai thác, sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước trên địa bàn các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Đã phối hợp với Thanh tra Bộ thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quy trình vận hành liên hồ chứa trên các lưu vực sông; kiểm tra đột xuất một số công trình như: thủy điện Hố Hô, khai thác nước dưới đất vùng đồng bằng sông Cửu Long, tình hình hạn hán, thiếu nước; đã ra 39 quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với 39 đơn vị có hành vi vi phạm, tổng số tiền phạt 5,696 tỷ Việt Nam đồng. các địa phương cũng đã tích cực thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, đã thành lập 1.072 đoàn thực hiện thanh tra, kiểm tra 8.140 cơ sở, tổng số tiền xử phạt hơn 39 tỷ đồng.

Về điều tra cơ bản tài nguyên nước: Điều tra đánh giá TNN nước dưới đất tỷ lệ 1:100.000 đạt khoảng gần 8% diện tích toàn quốc; tỷ lệ 1: 50.000 khoảng 20%; tỷ lệ 1:25.000 đạt khoảng 5%. Đánh giá nguồn nước mặt trên các LVS, ước tính khoảng 32.327km2 (9,7%); Lập bản đồ đặc trưng LVS: ước tính khoảng 4.816km2 trên các sông liên quốc gia ưu vực sông Hồng (1,5% diện tích toàn quốc); Lập bản đồ tài nguyên nước: Lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1: 200.000 về cơ bản phủ trùm 100% diện tích. Về điều tra hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước: đang thực hiện một số dự án trên vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Đông Nam bộ.

Về xây dựng và vận hành hệ thống mạng quan trắc nguồn nước xuyên biên giới; Khai thác, sử dụng tài nguyên nước tiết kiệm, hiệu quả, bảo đảm sử dụng tổng hợp, đa mục tiêu: Thực hiện rà soát, điều chỉnh quy trình vận hành liên hồ chứa trên 11 LVS: đã hoàn thành, trình Bộ trình Thủ tướng Chính phủ ban hành 11 quy trình vận hành liên hồ chứa trên các lưu vực sôn; duy trì thường xuyên, liên tục việc theo dõi tình hình thực hiện quy trình vận hành liên hồ chứa trên 11 LVS theo đúng quy trình đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan