Chủ nhật, 26/06/2022 - 11:46
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Bộ TN&MT báo cáo Thủ tướng về hoàn thiện dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp thu, giải trình ý kiến Bộ Tư pháp để hoàn thiện dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai, ngày 2/10, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã hoàn thiện các nội dung báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Dự thảo Nghị định đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường chuẩn bị bài bản, công phu và theo đúng quy định

Thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai theo đúng trình tự, thủ tục quy định (thành lập Ban soạn thảo, tổ biên tập; lấy ý kiến các Bộ, ngành và địa phương; đăng công khai trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường; tổ chức hội thảo với các Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý,…). 

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức Hội nghị trực tuyến ngày 29 tháng 4 năm 2020 để lấy ý kiến góp ý của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Dự thảo Nghị định đã được Bộ Tư pháp thẩm định, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tiếp thu, giải trình và trình Chính phủ tại Tờ trình số 102/TTr-BTNMT ngày 27 tháng 12 năm 2019.

Dự thảo Nghị định đã được tổ chức lấy ý kiến Thành viên Chính phủ 02 lần, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tiếp thu, giải trình tại Công văn số 3352/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 24 tháng 6 năm 2020 và Công văn số 4139/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 03 tháng 8 năm 2020.

Ngoài ra, Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng đã tổ chức 04 cuộc họp với các Bộ, ngành có liên quan để cho ý kiến hoàn thiện nội dung dự thảo Nghị định. Ý kiến góp ý tại các cuộc họp đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp thu, giải trình tại Công văn số 2496/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 09 tháng 5 năm 2020 và Công văn số 3550/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 02 tháng 7 năm 2020.

Như vậy, dự thảo Nghị định đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường chuẩn bị bài bản, công phu và theo đúng quy định.

Về ý kiến đề nghị làm rõ căn cứ pháp lý của quy định giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể điều kiện, tiêu chí, quy mô, tỷ lệ để tách thành dự án độc lập bảo đảm phù hợp với quy định của Luật Đất đai năm 2013, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và rà soát quy định về thời hạn sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư tại khoản 13 Điều 1 dự thảo Nghị định:

Việc giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể điều kiện, tiêu chí, quy mô, tỷ lệ để tách thành dự án độc lập tại khoản 13 Điều 1 là có cơ sở vì: Theo quy định của pháp luật về đất đai, đầu tư, quy hoạch, xây dựng thì các thẩm quyền liên quan đến chấp thuận chủ trương đầu tư, phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng, quyết định thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức đều được phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Mặt khác, trên cơ sở đề nghị của các tỉnh và các tổ chức có liên quan, Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng cần thiết phải đưa nội dung này vào nhằm tháo gỡ các vướng mắc, ách tắc trong việc thu hút các dự án đầu tư hiện nay. Việc đưa nội dung này vào dự thảo Nghị định là phù hợp với thực tiễn, tạo điều kiện để các địa phương chủ động tổ chức thực hiện vì việc bố trí các dự án đầu tư cụ thể phụ thuộc điều kiện về quỹ đất, quy hoạch chi tiết xây dựng, hạ tầng, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương,.... 

Về thời hạn sử dụng đất của dự án đầu tư thực hiện thông qua hình thức thỏa thuận, thuê, nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất: Thực tế khu vực đất thực hiện dự án đầu tư gồm nhiều thửa đất có thời hạn sự khác nhau. Nếu áp dụng từng trường hợp cụ thể theo quy định tại Điều 126 hoặc Điều 127 hoặc Điều 128 của Luật Đất đai thì thời hạn sử dụng đất của cả dự án đầu tư là không thống nhất trong toàn dự án, gây khó khăn cho việc triển khai thực hiện. Mặt khác, theo quy định tại khoản 3 Điều 126 Luật Đất đai thời hạn sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư được xác định theo thời hạn dự án đầu tư. Như vậy, quy định về cùng một thời hạn trong dự thảo Nghị định là phù hợp với quy định của pháp luật và thực tiễn. Đồng thời để đảm bảo quyền, lợi ích của người sử dụng đất tại khoản này đã bổ sung quy định: Trường hợp nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với loại đất được sử dụng ổn định lâu dài thì thời hạn sử dụng đất được xác định lại là ổn định lâu dài. Trường hợp thời hạn sử dụng đất còn lại vượt quá thời gian thực hiện dự án thì thời hạn sử dụng đất được xác định theo thời hạn sử dụng đất còn lại.

Về ý kiến đề nghị rà soát quy định xử lý chuyển tiếp tại Điều 4 Dự thảo Nghị định, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp rà soát và hoàn thiện các quy định chuyển tiếp tại Điều 4.

Về ý kiến đề nghị làm rõ những trường hợp được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và được Nhà nước giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất thì có phải thực hiện đấu thầu dự án có sử dụng đất hay không.

Về vấn đề này, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau: 

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng, ngày 02 tháng 7 năm 2020, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có Công văn số 3550/BTNMT-TCQLĐĐ gửi Thủ tướng Chính phủ đề xuất nội dung quy định không đấu giá quyền sử dụng đất, không đấu thầu dự án có sử dụng đất đối với trường hợp được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất vào dự thảo Nghị định; đồng thời, bổ sung Luật Đấu thầu vào căn cứ ban hành Nghị định để lấy ý kiến Thành viên Chính phủ. Kết quả biểu quyết đối với dự thảo quy định này có 22 Thành viên Chính phủ có ý kiến, trong đó có 19 Thành viên biểu quyết đồng ý (có 05 Thành viên có ý kiến góp ý cụ thể), 01 Thành viên biểu quyết không đồng ý, 02 Thành viên không biểu quyết. Tại Phiếu ghi ý kiến Thành viên Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đề nghị rà soát, không hướng dẫn trong dự thảo Nghị định nội dung đấu thầu dự án có sử dụng đất để phù hợp về phạm vi và tránh chồng chéo trong áp dụng pháp luật.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 11 Nghị định số 25/2020/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2020 của Chính phủ thì một trong các điều kiện xác định dự án sử dụng đất để đấu thầu là không đủ điều để tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất. Vì vậy, trường hợp được miễn tiễn sử dụng đất, tiền thuê đất và không thuộc trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì cũng không thuộc diện dự án sử dụng đất phải tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư theo quy định. Theo đó, tiếp thu ý kiến của Bộ trưởng Bộ Tư pháp tại Phiếu ghi ý kiến Thành viên Chính phủ, ngày 03 tháng 8 năm 2020, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có Công văn số 4139/BTNMT-TCQLĐĐ báo cáo Thủ tướng Chính phủ đề xuất chỉ quy định việc đấu giá quyền sử dụng đất đối với trường hợp được Nhà nước miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tại khoản 12 Điều 1 dự thảo Nghị định và không quy định nội dung đấu thầu dự án có sử dụng đất đối với trường hợp được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.

Qua rà soát dự thảo Nghị định theo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, tại Công văn số 3348/BTP-PLDSKT ngày 11 tháng 9 năm 2020, Bộ Tư pháp đề nghị nghiên cứu làm rõ nội dung đấu thầu dự án có sử dụng đất đối với trường hợp được miễn tiền sử dụng, tiền thuê đất để có hướng xử lý các vướng mắc trong thực tiễn.

Bộ Tài nguyên và Môi trường thấy rằng theo quy định của pháp luật về đất đai đối với trường hợp được miễn tiền sử dụng, tiền thuê đất thì không phải đấu giá quyền sử dụng đất mà thực hiện việc giao đất, cho thuê đất cho chủ đầu tư thực hiện dự án; nhà đầu tư phải đảm bảo các điều kiện năm lực quy định tại Điều 58 Luật Đất đai, Điều 13 và Điều 14 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15 tháng 5 năm 2014. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất có trách nhiệm thẩm định, lựa chọn nhà đầu tư đảm bảo các điều kiện theo quy định.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 11 Nghị định số 25/2020/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2020 của Chính phủ thì một trong các điều kiện xác định dự án sử dụng đất để đấu thầu là không đủ điều để tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất. Trường hợp được miễn tiễn sử dụng đất, tiền thuê đất thì có phải thực hiện đấu thầu dự án có sử dụng đất hay không nên còn có quan điểm khác nhau trong việc áp dụng pháp luật. Do đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp thu ý kiến của Bộ Tư pháp bổ sung quy định vào dự thảo Nghị định đối với trường hợp miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất mà không phải đấu giá quyền sử dụng đất khi giao đất, cho thuê đất thì không phải đấu thầu dự án có sử dụng đất để lựa chọn nhà đầu tư; Uỷ ban nhân dân có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất căn cứ quy định về điều kiện giao đất, cho thuê đất của Luật Đất đai và Nghị định của Chính phủ để giao đất, cho thuê đất cho nhà đầu tư theo quy định.

Về ý kiến đề nghị rà soát quy định hủy kết quả đấu giá quyền sử dụng đất tại khoản 20 Điều 1 dự thảo Nghị định, về vấn đề này, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã cùng phối hợp với đại diện của Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ rà soát và chỉnh sửa lại dự thảo Nghị định theo hướng trường hợp người trúng đấu giá không nộp tiền hoặc không nộp đủ tiền theo đúng phương án đấu giá quyền sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền hủy quyết định công nhận kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Quy định này để đảm bảo trách nhiệm thực hiện nghĩa vu tài chính của người trúng đấu giá với Nhà nước. Các nội dung khác thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu giá tài sản.

Về ý kiến đề nghị rà soát nội dung khoản 21 Điều 1 dự thảo Nghị định (sửa đổi, bổ sung Điều 72 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ) để đề xuất bổ sung trình tự, thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận cho người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua công trình xây dựng. Tiếp thu ý kiến của Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã hoàn thiện Điều 72 theo hướng bổ sung trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận dự án kinh doanh bất động sản không phải là dự án phát triển nhà ở và bổ sung Điều 32a như sau:

“Điều 32a. Chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đối với trường hợp mua tài sản, công trình xây dựng trên đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm 

1. Đối với trường hợp bán toàn bộ hoặc một phần tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về kinh doanh bất động sản và phù hợp với quy hoạch chi tiết mà không làm thay đổi mục tiêu, nội dung của dự án thì Nhà nước thu hồi đất và cho người mua tài sản tiếp tục thuê đất thực hiện dự án theo thời hạn còn lại của dự án, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận thực hiện theo khoản 5 Điều 79 Nghị định này. 

2. Đối với trường hợp bán từng phần diện tích trong công trình xây dựng thuộc dự án kinh doanh bất động sản gắn liền với đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm mà không làm thay đổi mục tiêu dự án và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này thì người mua tài sản được chứng nhận quyền sở hữu tài sản trên đất đã được Nhà nước cho chủ đầu tư thuê. Chủ đầu tư dự án đã được Nhà nước cho thuê đất có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật khác có liên quan.”

Quy định này là cụ thể hóa Điều 104 Luật đất đai căn cứ vào Điều 175, Điều 189 của Luật Đất đai và Điều 9, Điều 11, Điều 19 của Luật Kinh doanh Bất động sản và cụ thể hóa Điều 32 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP. Việc hoàn thiện và bổ sung quy định này tạo hành lang pháp lý đầy đủ, đồng bộ thống nhất, thuận lợi cho quá trình thực thủ tục của người dân, doanh nghiệp trong cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình đối với các dự án kinh doanh bất động sản không phải là dự án phát triển nhà ở. 

Qua đó, thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển lành mạnh, đúng quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người dân, doanh nghiệp. Đây là nội dung được bổ sung hoàn thiện trên cơ sở ý kiến của Bộ Tư pháp so với dự thảo đã trình, Bộ Tài nguyên và Môi trường kính trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định hoặc lấy ý kiến Thành viên Chính phủ trước khi ban hành.

Tiếp thu kiến nghị của Đại biểu Quốc hội, cử tri một số địa phương và kết quả rà soát văn bản quy phạm pháo luật

Ngoài các nội dung giải trình, tiếp thu nêu trên, trong quá trình hoàn thiện dự thảo Nghị định, tiếp thu kiến nghị của Đại biểu Quốc hội, cử tri một số địa phương và kết quả rà soát văn bản quy phạm pháo luật, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã nghiên cứu, bổ sung vào dự thảo Nghị định các nội dung sau đây: 

Sửa đổi, bổ sung quy định tại điểm b khoản 1 Điều 68 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP để thống nhất với quy định của Luật Đầu tư về thời hạn giải quyết thủ tục thẩm định nhu cầu sử dụng đất, điều kiện giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích là 15 ngày (quy định hiện hành của Nghị định là 30 ngày); 

Quy định bổ sung đối tượng “người có uy tín trong dòng họ, ở nơi sinh sống, nơi làm việc; người có trình độ pháp lý, có kiến thức xã hội; già làng, chức sắc tôn giáo, người biết rõ vụ, việc” vào thành phần Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai quy định tại điểm b khoản 1 Điều 88 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP. Đồng thời bổ sung khoản 5 Điều 88 theo hướng giao trách nhiệm Bộ Tài chính quy định cụ thể việc hỗ trợ kinh phí cho hòa giải tranh chấp đất đai. 

Bên cạnh đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã rà soát, chỉnh sửa kỹ thuật trong toàn bộ dự thảo Nghị định./.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan