Chủ nhật, 14/08/2022 - 19:22
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Một số đề xuất về lý luận và giải pháp thực tiễn cho công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường giai đoạn tiếp theo

Trên cơ sở nghiên cứu, tổng kết về lý luận, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam về quản lý đất đai, các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác, BVMT và ứng phó với BĐKH trong nền KTTT định hướng XHCN, hội nhập quốc tế ở Việt Nam để bổ sung cho Đảng và Nhà nước; nhận diện các vấn đề bối cảnh quốc tế, bối cảnh trong nước, các quan điểm và mục tiêu trong giai đoạn tới… để đề xuất về lý luận và giải pháp thực tiễn cho công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường giai đoạn tiếp theo.

Trước hết, về bối cảnh quốc tế, hòa bình, hợp tác và cùng phát triển vẫn là xu thế chủ đạo trong thời gian tới. Xu hướng toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế sâu rộng, cách mạng công nghiệp 4.0, phát triển khoa học-công nghệ, kinh tế tri thức tiếp tục được đẩy mạnh. Cạnh tranh nước lớn diễn ra gay gắt và toàn diện hơn, xu hướng bảo hộ thương mại đang nổi lên.

Khan hiếm, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên trên thế giới sẽ là áp lực đối với các quốc gia nhằm tăng cường dự trữ các nguồn lực. Tranh chấp chủ quyền biển, đảo trên Biển Đông tiếp tục diễn biến phức tạp. BĐKH và nước biển dâng, ô nhiễm môi trường xuyên biên giới, biển, đảo và đại dương tiếp tục là những vấn đề toàn cầu. Đến nay nhiều hiệp định, quy định quốc tế mới về BĐKH đã được ký kết, mở ra cơ hội lớn trong phát triển kinh tế-xã hội nhưng cũng chứa đựng những rủi ro, thách thức đối với nước ta;

Kinh tế số, kinh tế tuần hoàn đang trở thành xu thế phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới; tăng trưởng xanh, phát triển nền kinh tế xanh tiếp tục được các nước triển khai thông qua phát triển năng lượng sạch, cac-bon thấp và phát triển bao trùm. Thực hiện Chương trình nghị sự phát triển bền vững đến 2030 với 17 mục tiêu (SDGs) và Thỏa thuận Paris về BĐKH sẽ là những trọng tâm trong chính sách phát triển của nhiều quốc gia.

Về bối cảnh trong nước, chủ trương của Đảng về “phát triển nhanh và bền vững” tiếp tục thực hiện trong thời gian tới, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế vẫn là trọng tâm; đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức. Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN tiếp tục được hoàn thiện; phát triển mạnh mẽ kinh tế tư nhân, cải cách doanh nghiệp nhà nước tiếp tục được chú trọng, phát triển; bộ máy quản lý nhà nước phải được tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả. Mục tiêu xây dựng chính phủ kiến tạo, đẩy mạnh cải cách hành chính, cắt giảm thủ tục đầu tư kinh doanh để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế được Chính phủ kiên định thực hiện. Quan điểm không đánh đổi môi trường vì các lợi ích kinh tế được quán triệt nghiêm túc.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế sẽ dẫn đến những thay đổi về hành vi con người, nhận thức, văn hóa và tiêu dùng trong nền kinh tế. Công nghệ và phương thức quản lý nhà nước cũng sẽ phải thay đổi để đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời đại mới. Hội nhập quốc tế tạo ra những cơ hội cho thu hút đầu tư, thúc đẩy thương mại quốc tế nhưng cũng chứa đựng nhiều rào cản, thách thức về công nghệ, quản lý và cả các áp lực trong việc thực hiện các cam kết quốc tế.

Nhu cầu về đất đai, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, khoáng sản và năng lượng cho phát triển sẽ gây ra nhiều áp lực, đặc biệt là vấn đề tranh chấp đất đai, an ninh môi trường, an ninh nguồn nước. Các áp lực về ô nhiễm, suy thoái môi trường do chất thải từ các hoạt động kinh tế, dân sinh tiếp tục gia tăng. BĐKH là thách thức lớn và sẽ có những tác động tiêu cực đến nền kinh tế, nhưng vẫn có thể tạo ra những cơ hội cho chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Quan điểm và mục tiêu quản lý tài nguyên và môi trường trong thời gian tới

Thứ nhất, cần đặt yêu cầu về ứng phó với BĐKH, quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên và BVMT ở vị trí trung tâm của các quyết định phát triển; môi trường không chỉ là không gian sinh tồn của con người, mà còn là điều kiện, nền tảng, yếu tố tiên quyết cho phát triển KTXH bền vững. Không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế; thực hiện sàng lọc, lựa chọn đầu tư phát triển dựa trên các tiêu chí về môi trường. Bảo đảm hài hòa lợi ích, tạo động lực khuyến khích các bên liên quan tích cực tham gia công tác ứng phó với BĐKH, quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả tài nguyên và BVMT.

Thứ hai, Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tăng cường đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển.

Thứ ba, linh hoạt vận dụng các mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế biển xanh, kinh tế carbon thấp trong quá trình tái cơ cấu kinh tế, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, tận dụng thành tựu của cuộc Cách mạnh công nghiệp lần thứ 4 để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng, phát triển kinh tế với các mục tiêu về quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên, BVMT và ứng phó với BĐKH.

Thứ tư, con người là trọng tâm, văn hóa là nền tảng, trình độ nhận thức, ý thức và trách nhiệm là những nội dung xuyên suốt trong việc nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, BVMT và ứng phó với BĐKH. Quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên; BVMT và ứng phó với BĐKH phải đặc biệt chú trọng đến ổn định, bền vững trong nước, đoàn kết, phát huy sức mạnh tổng hợp quốc gia, giữ vững độc lập, an ninh và toàn vẹn lãnh thổ.

Một số đề xuất về lý luận và giải pháp thực tiễn cho công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường giai đoạn tiếp theo

Tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu để hoàn thiện lý luận về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu trong bối cảnh mới. Trong đó, tiếp tục nghiên cứu, tổng kết về lý luận, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam về quản lý đất đai, các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác, BVMT và ứng phó với BĐKH trong nền KTTT định hướng XHCN, hội nhập quốc tế ở Việt Nam để bổ sung cho Đảng và Nhà nước. Trọng tâm của nhiệm vụ là xác định rõ được vị trí, vai trò, chức năng và các mối quan hệ của Nhà nước với thị trường trong QLTN, BVMT và ứng phó với BĐKH để đề xuất hướng tiếp cận và giải pháp phù hợp. Tăng cường ứng dụng các thành tựu của khoa học và công nghệ vào hoạt động quản lý, điều tiết thị trường tài nguyên, môi trường và ứng phó với BĐKH. Trong đó, tập trung vào rà soát, đánh giá các kết quả nghiên cứu khoa học của các Chương trình Khoa học và Công nghệ; các kết quả Nghiên cứu của các tổ chức, các nhà khoa học trong và ngoài nước để lựa chọn ra những kết quả có giá trị, phù hợp với điều kiện của Việt Nam để chuẩn hóa và đề xuất ứng dụng vào trong công tác QLTN, BVMT và ứng phó với BĐKH.

Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các cấp ủy, đảng, chính quyền và nhân dân về ý thức trách nhiệm trong quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, BVMT và ứng phó với BĐKH trong phát triển kinh tế-xã hội.

Tăng cường cơ chế thực thi, giám sát từ Trung ương đến địa phương trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường và ứng phó với BĐKH, đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, nâng chế tài xử phạt vi phạm phù hợp với thực tiễn nhằm ngăn chặn có hiệu quả; đẩy mạnh tính công khai, minh bạch và hoạt động giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội và cộng đồng để nâng cao tính hiệu quả, hiệu lực của chính sách, pháp luật về tài nguyên, môi trường và ứng phó với BĐKH.

Đầu tư nguồn lực để đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý tài nguyên, BVMT và ứng phó với BĐKH, từng bước chủ động nội lực thực hiện đóng góp đã cam kết với quốc tế cũng như các hành động cấp bách trong ứng phó với BĐKH ở Việt Nam. Cân đối hài hòa đảm bảo nguồn chi từ ngân sách kết hợp với đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho thực thi hiệu quả ứng phó với BĐKH, quản lý tài nguyên và BVMT.

Đổi mới, nâng cao tính liên kết, đồng bộ giữa quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây dựng, quy hoạch ngành, lĩnh vực khác. Luật hóa và qui định cụ thể theo tổ chức không gian trong mối quan hệ giữa các yếu tố thành phần tự nhiên: đất, nước, khoáng sản, đa dạng sinh học, không khí theo không gian ba chiều nhằm hạn chế tối đa xung đột trong phát triển kinh tế-xã hội trên cùng một không gian lãnh thổ, mặt khác phát huy ưu thế của mỗi nguồn lực tự nhiên vào mục tiêu chung, đảm bảo tính hiệu quả và bền vững.

Đảm bảo an ninh nguồn nước quốc gia thông qua quản lý thông minh, sử dụng bền vững tài nguyên nước. Triển khai các cơ chế điều phối, giám sát liên ngành với sự tham gia giám sát của cộng đồng. Nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp, xung đột trong các vấn đề xuyên biên giới, tăng cường vai trò của Việt Nam tại Uỷ hội sông Mê Công quốc tế.

Điều tra địa chất, đánh giá khoáng sản gắn với xác định giá trị của khoáng sản, địa chất, địa mạo, tai biến địa chất. Tập trung điều tra, đánh giá tổng thể tiềm năng tài nguyên các loại khoáng sản, đặc biệt là khoáng sản kim loại có quy mô lớn nằm ở dưới sâu đến 1000 m. Nghiên cứu, điều tra địa chất môi trường, địa chất đô thị phục vụ cho quy hoạch phát triển, phòng tránh các nguy cơ của tai biến địa chất, trong bối cảnh BĐKH. Đẩy mạnh thực hiện đấu giá quyền khai thác khoáng sản, thăm dò, khai thác khoáng sản gắn với tuyển, chế biến khoáng sản có hiệu quả, đảm bảo môi trường, cân đối giữa dự trữ và thăm dò, khai thác, xuất khẩu khoáng sản sau tuyển và chế biến, phải đảm bảo nhu cầu trong nước.

Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với BVMT, cải thiện chất lượng tăng trưởng; tài nguyên phải được hạch toán đầy đủ và xác định giá trị đóng góp trong từng ngành, lĩnh vực của nền kinh tế làm cơ sở cho tính thuế tài nguyên và các cơ chế tài chính khác. Môi trường là không gian sống và sản xuất, phải xác lập được giá trị dịch vụ của môi trường đối với các ngành sản xuất và dịch vụ. Những tổn thất môi trường do ô nhiễm, suy thoái có nguồn gốc từ các ngành sản xuất và dịch vụ phải được hạch toán đầy đủ làm cơ sở cho xác lập thuế phí môi trường và các cơ chế tài chính khác.

Xây dựng các mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, hoàn thiện hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn để phòng ngừa có hiệu quả các nguy cơ ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Phòng ngừa, kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm môi trường với trọng tâm là tăng cường sử dụng các công cụ dự báo, phân tích, đánh giá mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với ô nhiễm, suy thoái môi trường do các dự án đầu tư phát triển. Bảo vệ, phát triển bền vững các hệ sinh thái tự nhiên, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, sử dụng khôn khéo các hệ sinh thái đất ngập nước.

Phát triển khí tượng thủy văn tương xứng, phù hợp với vai trò, tính chất là một phần của cơ sở hạ tầng, ứng dụng tài nguyên số thông tin, dữ liệu phục vụ công tác quản lý, điều hành chính sách, phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, phòng chống thiên tai và ứng phó với BĐKH; thúc đẩy xã hội hóa, hình thành nền công nghiệp khí tượng thủy văn phục vụ đa mục tiêu, đa lĩnh vực.

Ứng phó BĐKH và phòng tránh thiên tai được lồng ghép, tích hợp mục tiêu ứng phó BĐKH, phòng tránh thiên tai trong hoạt động của các ngành sản xuất và dịch vụ để hạn chế tối đa thiệt hại các rui ro thiên nhiên. Chủ động phòng, chống, hạn chế tác động của triều cường, ngập lụt, xâm nhập mặn do nước biển dâng đối với vùng ven biển, tận dụng các cơ hội do BĐKH mang lại, thay đổi tư duy phát triển, tạo ra các mô hình và phương thức phát triển mới phù hợp với bối cảnh mới. Giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; bảo vệ, phát triển các hệ sinh thái tự nhiên, tăng cường khả năng hấp thụ khí nhà kính.

Huy động nguồn lực để triển khai Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam, trong đó ưu tiên đầu tư cho tăng cường năng lực nghiên cứu biển, phát triển đội ngũ nhà khoa học, chuyên gia chuyên sâu; đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản; xây dựng hệ thống quan trắc, giám sát, cảnh báo, dự báo thiên tai biển. Triển khai đánh giá tiềm năng, giá trị các tài nguyên biển quan trọng ở một số vùng trọng điểm. Ngăn ngừa, giảm rác thải nhựa và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển. Thiết lập bộ cơ sở dữ liệu số hoá về biển, đảo, bảo đảm tính tích hợp, chia sẻ và cập nhật. Ngăn ngừa, kiểm soát và giảm đáng kể ô nhiễm môi trường biển; tiên phong trong khu vực về giảm thiểu chất thải nhựa đại dương. Quản lý và bảo vệ tốt các hệ sinh thái biển, ven biển và hải đảo; tăng diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển; phục hồi diện tích rừng ngập mặn ven biển, rạn san hô, thảm cỏ biển và đầm phá ven biển.

Lồng ghép mục tiêu, nhiệm vụ về quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu vào trong các nội dung về phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng.


Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan