Thứ 2, 26/09/2022 - 00:37
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Đề xuất xây dựng Nghị quyết của Quốc hội về tăng cường nguồn lực đầu tư cho công tác điều tra cơ bản và quản lý tổng hợp và thống nhất về biển, hải đảo phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển.

Dự án được đề xuất thực hiện trong hai năm 2021, 2022 với mục tiêu có được cơ sở khoa học, thực tiễn và pháp lý phục vụ xây dựng Nghị quyết của Quốc hội về tăng cường nguồn lực đầu tư cho công tác điều tra cơ bản và quản lý tổng hợp và thống nhất về biển, hải đảo phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển; đồng thời dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về tăng cường nguồn lực đầu tư cho công tác điều tra cơ bản và quản lý tổng hợp và thống nhất về biển, hải đảo phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển.

Căn cứ pháp lý đề xuất và triển khai thực hiện nhiệm vụ có: Nghị quyết số 36- NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến 2030, tầm nhìn đến 2045; Nghị quyết số 26-NQCP ngày 05/3/2020 của Chính phủ ban hành Kế hoạch tổng thể và kế hoạch 5 năm của Chính phủ thực hiện Nghị Quyết số 36- NQ/TW ngày 22/10/2018 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XII ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến 2030, tầm nhìn đến 2045; Luật tài nguyên môi trường biển và hải đảo số: 82/2015/QH 13 ngày 25/06/2015;- Nghị định số 40/2016/NĐ -CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.

Nhằm quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường biển, ngày 04/3/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường, trong đó thành lập Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam. Đây là lần đầu tiên chúng tá có cơ quan quản lý về lĩnh vực tài nguyên biển. Trong những năm qua, Chính phủ, thủ tướng Chính phủ đã quan tâm đầu tư cho công tác điều tra cơ bản và quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển. Nghiên cứu khoa học, điều tra cơ bản, phát triển nguồn nhân lực về biển đạt được nhiều kết quả tích cực. Công tác quản lý, khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên môi trường biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng được chú trọng. Hệ thống chính sách, pháp luật, bộ máy quản lý nhà nước về biển, đảo từng bước được hoàn thiện và phát huy hiệu lực, hiệu quả, kinh tế biển, các vùng biển, ven biển đang trở thành động lực phát triển đất nước. 

Bên cạnh các kết quả đạt được, công tác điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học và quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển còn nhiều hạn. Những hạn chế yếu kèm này có yếu tố khách quan, song nguyên nhân chủ yếu là các yếu tố khách quan mà Nghị Quyết số 36 - NQ/TW ngày 22/10/2018 của Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương đảng khóa XII về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã chỉ ra như: “Công tác quy hoạch, kế hoạch, đầu tư phát triển các ngành, lĩnh vực, vùng, địa phương liên quan đến biển còn thiếu tính tổng thể, liên kết... Đầu tư cho nghiên cứu khoa học, điều tra cơ bản, phát triển nguồn nhân lực biển còn hạn chế…”. 

Để đáp ứng mục tiêu mà Nghị quyết số 36 - NQ/TW: (1) “Đánh giá được tiềm năng, giá trị các tài nguyên biển quan trọng. Tối thiểu 50% diện tích vùng biển Việt Nam được điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển ở tỉ lệ bản đồ 1: 500.000 và điều tra tỉ lệ lớn ở một số vùng trọng điểm. Thiết lập bộ cơ sở dữ liệu số hoá về biển, đảo, bảo đảm tính tích hợp, chia sẻ và cập nhật. (2) Ngăn ngừa, kiểm soát và giảm đáng kể ô nhiễm môi trường biển; tiên phong trong khu vực về giảm thiểu chất thải nhựa đại dương. Ở các tỉnh, thành phố ven biển, 100% chất thải nguy hại, chất thải rắn sinh hoạt được thu gom và xử lý đạt quy chuẩn môi trường; 100% khu kinh tế, khu công nghiệp và khu đô thị ven biển được quy hoạch, xây dựng theo hướng bền vững, sinh thái, thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, có hệ thống xử lý nước thải tập trung, đáp ứng các quy chuẩn, tiêu chuẩn về môi trường. (3) Quản lý và bảo vệ tốt các hệ sinh thái biển, ven biển và hải đảo; tăng diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia; phục hồi diện tích rừng ngập mặn ven biển tối thiểu bằng mức năm 2000”, nhằm “Đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển; hình thành văn hoá sinh thái biển…”. thì cần phải phải đầu tư hơn nữa, có những cơ chế, chính sách đặc thù cho công tác điều tra cơ bản và quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển. Chính vì vậy, trong Nghị quyết số 26- NQ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ ban hành Kế hoạch tổng thể và kế hoạch 5 năm của Chính phủ thực hiện Nghị Quyết số 36 - NQ/TW, Chính phủ đã đưa ra nhiều nhiệm vụ, giải pháp, trong đó có nhiệm vụ: “Điều tra, thu thập, xây dựng Nghị quyết của Quốc hội về tăng cường nguồn lực đầu tư cho công tác điều tra cơ bản và quản lý tổng hợp và thống nhất về biển, hải đảo phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển”.

Địa chỉ sử dụng sản phẩm: Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, các Sở Tài ngyên và Môi trường các tỉnh có biển và các tổ chức, cá nhân tham gia vào công tác điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học và quản lý tài nguyên, môi trường biển.

Các nhiệm vụ chủ yếu gồm: (1). Điều tra, thu thập, tổng hợp thông tin, tài liệu về cơ chế, chính sách, quy định pháp luật liên quan đến công tác điều tra cơ bản và quản lý tổng hợp và thống nhất về biển, hải đảo phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển; (2). Phân tích, đánh giá thông tin, tài liệu về cơ chế, chính sách, quy định pháp luật liên quan đến công tác điều tra cơ bản và quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển: Phân tích, đánh giá các thông tin về chế độ, chính sách đầu tư điều tra cơ bản ở Việt Nam và thế giới; Phân tích, đánh giá thực trạng nguồn lực đầu tư cho công tác điều tra cơ bản quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển trên thế giới; Phân tích, đánh giá tính chất đặc thù trong công tác điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển; Phân tích, xác định những ưu điểm, hạn chế và tồn tại trong đầu tư nguồn lực về công tác quản lý, điều tra cơ bản biển và hải đảo; Phân tích nhầu cầu nguồn lực thực hiện điều tra cơ bản và quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển. (3). Phân tích, đánh giá vai trò của công tác điều tra cơ bản và quản lý tổng hợp biển và hải đảo đối với phát triển kinh tế biển và hải đảo; Phân tích, đánh giá vai trò của công tác điều tra cơ bản và quản lý tổng hợp biển và hải đảo trong việc xây dựng chiến lược, kế hoạch, quy hoạch phát triển bền vững kinh tế biển và đảm bảo an ninh quốc gia;Phân tích, đánh giá vai trò của công tác điều tra cơ bản và quản lý tổng hợp biển và hải đảo trong việc xây dựng thể chế, chính sách quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường biển; Phân tích, đánh giá tiềm năng và nhu cầu phát triển kinh tế của các lĩnh vực liên quan đến biển và hải đảo; Xác định các lĩnh vực cần ưu tiên đầu tư nguồn vốn riêng cho công tác điều tra cơ bản biển và hải đảo. (4). Khảo sát thực tế nước ngoài. (5). Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường nguồn lực đầu tư cho công tác điều tra cơ bản và quản lý tổng hợp và thống nhất về biển, hải đảo phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển. (6). Xây dựng các báo cáo chuyên đề, báo cáo tổng hợp về cơ sở khoa học, thực tiễn và pháp lý liên quan tới xây dựng Nghị quyết của Quốc hội về tăng cường nguồn lực đầu tư cho công tác điều tra cơ bản và quản lý tổng hợp và thống nhất về biển, hải đảo phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển. (7). Xây dựng nội dung chi tiết nội dung Nghị quyết của Quốc hội về tăng cường nguồn lực đầu tư cho công tác điều tra cơ bản và quản lý tổng hợp và thống nhất về biển, hải đảo phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển. (8). Tổ chức các hội thảo. (9). Trình ban hành Nghị quyết.


Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan