Thứ 7, 20/08/2022 - 03:36
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Những điểm mới trong quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước

     Thời quan qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 41/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 82/2017/NĐ-CP ngày 17 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.

 

      Theo đó, nhiều nội dung về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước được sửa đổi, bổ sung mới cụ thể như sau:

      Thứ nhất, về trường hợp phải nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước

      Các trường hợp phải nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước theo Nghị định tiếp tục được kế thừa tại Nghị định số 82/2017/NĐ-CP là các tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt, nước dưới đất (sau đây gọi chung là chủ giấy phép) thuộc một trong các trường hợp sau đây:

      Đối với khai thác nước mặt: khai thác nước mặt để phát điện; khai thác nước mặt để phục vụ hoạt động kinh doanh, dịch vụ, sản xuất phi nông nghiệp, bao gồm cả nước làm mát máy, thiết bị, tạo hơi, gia nhiệt.

      Đối với khai thác nước dưới đất: khai thác nước dưới đất để phục vụ hoạt động kinh doanh, dịch vụ, sản xuất phi nông nghiệp, bao gồm cả nước làm mát máy, thiết bị, tạo hơi, gia nhiệt; khai thác nước dưới đất (trừ nước lợ, nước mặn) để nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi gia súc, tưới cà phê, cao su, điều, chè, hồ tiêu và cây công nghiệp dài ngày khác với quy mô từ 20m3/ngày đêm trở lên.

      Như vậy, so với Nghị định số 82/2017/NĐ-CP, Nghị định số 41/2021/NĐ-CP bổ sung mục đích sử dụng nước “gia nhiệt” để phù hợp với loại hình sử dụng nước không tiêu hao giống như làm mát máy. Đồng thời, tại khoản này, không bổ sung thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước đối với tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng nước biển.

      Thứ hai, về căn cứ tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước

      Theo Nghị định, căn cứ thứ nhất về mục đích sử dụng nước, Nghị định bổ sung từ “gia nhiệt” cho phù hợp với quy định tại Điều 3. Về khoản 2 Điều 4, được sửa đổi thành “chất lượng nguồn nước được xác định theo phân vùng chất lượng nước hoặc phân vùng chức năng nguồn nước trong các quy hoạch tài nguyên nước hoặc các quy hoạch về tài nguyên nước theo pháp luật về quy hoạch hoặc quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh đã được phê duyệt; trường hợp chưa có quy hoạch hoặc trong quy hoạch chưa phân vùng thì căn cứ vào chất lượng thực tế của nguồn nước khai thác”. Nội dung được sửa đổi cho phù hợp với Luật Quy hoạch và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 Luật có liên quan đến quy hoạch. Khoản 4 sửa đổi để phù hợp với việc xác định hệ số điều chỉnh ứng với các loại hình công trình khai thác nước dưới đất. Khoản 5, 6 sửa đổi để phù hợp với các nội dung khác của dự thảo Nghị định.

      Thứ ba, về sản lượng tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước

      Theo Nghị định, thời điểm tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước được làm rõ hơn, theo đó, chia làm 04 trường hợp, cụ thể:

      Trường hợp công trình đã vận hành trước ngày 01 tháng 9 năm 2017, tính từ ngày 01 tháng 9 năm 2017 đến thời điểm giấy phép hết hiệu lực;

      Trường hợp công trình vận hành sau ngày 01 tháng 9 năm 2017, tính từ thời điểm công trình vận hành đến thời điểm giấy phép hết hiệu lực, thời điểm bắt đầu vận hành là thời điểm hoàn thành việc đầu tư xây dựng, đưa công trình khai thác nước vào vận hành chính thức;

      Trường hợp công trình đã vận hành và đã được cấp giấy phép, phê duyệt tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước mà chủ giấy phép nộp hồ sơ đề nghị cấp, gia hạn để tiếp tục khai thác nước, tính từ ngày giấy phép trước đó hết hiệu lực đến thời điểm giấy phép mới hết hiệu lực;

      Trường hợp công trình khai thác tài nguyên nước đã được Chính phủ Việt Nam bảo lãnh theo Bảo lãnh Chính phủ trước khi Nghị định này có hiệu lực, thì được thực hiện theo quy định của pháp luật về cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ và pháp luật về đầu tư.

      Ngoài ra, các khoản 5 và khoản 6 Điều 7 Nghị định số 82/2017/NĐ-CP cũng được sửa đổi, bổ sung làm rõ cách xác định tỷ lệ cấp nước cho các công trình có nhiều mục đích sử dụng nước.

      Thứ tư, giá tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước

      Theo Nghị định, giá tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước được làm rõ hợp theo giá tính thuế tài nguyên nước ứng với từng mục đích sử dụng để đảm bảo tính thống nhất, ví dụ như: giá tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước cho cơ sở sản xuất nước sạch cấp nước đô thị, nông thôn; giá tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước cho cơ sở sản khai thác, sản xuất nước tinh lọc, rượu, bia, nước giải khát, nước đá, giá tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước cho cơ sở sản xuất nước sạch cấp cho khu công nghiệp, cơ sở kinh doanh dịch vụ, cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; giá tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước cho cơ sở khai thác, chế biến khoáng sản, cưa cắt đá là giá tính thuế tài nguyên nước thiên nhiên dùng cho khai khoáng. Đối với công trình khai thác nước dưới đất cấp cho tưới cà phê, cao su, điều, chè, hồ tiêu và cây công nghiệp dài ngày khác, nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi gia súc áp dụng giá tính thuế tài nguyên đối với nước thiên nhiên dùng cho mục đích khác cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành.

      Thứ năm, trình tự, thủ tục tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước

      Nghị định sửa đổi, bổ sung quy định theo hướng tách thủ tục phê duyệt tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước và thủ tục cấp giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước đối với các công trình chưa vận hành chính thức thành hai thủ tục độc lập.

      Thứ sáu, điều chỉnh, hoàn trả, truy thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước

      Bổ sung làm rõ việc điều chỉnh tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước để khắc phục tình trạng công trình bị hư hỏng không khai thác được nhưng khi điều chỉnh tiền lại phải nộp tiền nhiều hợn; bổ sung trách nhiệm của cơ quan thẩm định hồ sơ để xác định rõ số ngày công trình phải dừng hoạt động làm căn cứ điều chỉnh tiền cấp quyền; bổ sung trình tự, thủ tục truy thu, hoàn trả tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.

      Ngoài ra, nghị định sửa đổi, bổ sung phương thức nộp tiền, phân chia tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước và một số phụ lục.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan