Thứ 2, 23/05/2022 - 09:06
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Nâng cao hiệu quả giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước

Bộ Tài nguyên và Môi trường đang dự thảo Thông tư quy định về giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước (thay thế Thông tư số 47/2017/TT-BTNMT ngày 07/11/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường).

 

Theo đánh giá của Bộ Tài nguyên và Môi trường, sau ba năm thực hiện Thông tư số 47/TT-BTNMT, công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước tiếp tục được tăng cường hiệu lực, hiệu quả; đã nâng cao ý thức trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước, là một công cụ quan trọng phục vụ công tác quản lý các hoạt động khai thác, sử dụng nước của các công trình đã được cấp giấy phép tài nguyên nước để cơ quan quản lý có đầy đủ cơ sở quản lý, đánh giá việc tuân thủ thực hiện nội dung quy định của giấy phép và các quy định của pháp luật về tài nguyên nước để kịp thời điều chỉnh cho phù hợp và đảm bảo giảm thiểu tối đa các tác động do hoạt động khai thác, sử dụng và xả nước thải gây ra.

Tuy nhiên, qua thực tiễn 03 năm triển khai thi hành Thông tư số 47/TT-BTNMT đã cho thấy có những vướng mắc và đề nghị tháo gỡ từ các địa phương và tổ chức, cá nhân như sau: Thông tư có hiệu lực kể từ ngày 22/12/2017, tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện thì các địa phương gặp nhiều khó khăn trong việc xây dựng hệ thống giám sát; các tổ chức, cá nhân cũng gặp khó khăn trong việc thuê đơn vị tư vấn hoặc chậm trễ trong việc nhập khẩu, lắp đặt các thiết bị quan trắc do ảnh hưởng của dịch Covid-19, từ đó dẫn đến việc nhiều chủ giấy phép khai thác, sử dụng nước chưa hoàn thành nghĩa vụ kết nối, truyền dữ liệu vào hệ thống giám sát trước 31/12/2019 theo quy định của Thông tư. Ngoài ra, hầu hết các địa phương đều đề nghị hướng dẫn rõ việc xây dựng hệ thống giám sát, gồm thiết bị thu nhận, lưu trữ dữ liệu, phần mềm quản lý, xử lý dữ liệu, cơ sở dữ liệu của hệ thống giám sát... để triển khai thực hiện. Một số ý kiến đề nghị điều chỉnh tần suất giám sát, giảm quy mô lưu lượng công trình khai thác nước dưới đất phải thực hiện việc giám sát tự động, trực tuyến; quy định rõ tần suất, thông số giám sát chất lượng nước. Một số quy định của Thông tư còn gặp khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện như việc quan trắc, giám sát lưu lượng xả dòng chảy tối thiểu, quan trắc mực nước đối với các giếng khoan đường kính nhỏ, việc cập nhật số liệu quan trắc định kỳ vào hệ thống giám sát... Do vậy, việc xây dựng để ban hành Thông tư quy định về giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước để thay thế Thông tư số 47/2017/TT-BTNMT ngày 07 tháng 11 năm 2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường để bảo đảm khả thi triển khai trong thực tế, đảm bảo công tác quản lý nhà nước là cần thiết.

Theo dự thảo, Thông tư này quy định việc giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước. Đối tượng áp dụng là các cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước ở trung ương và địa phương; Các tổ chức, cá nhân có công trình khai thác tài nguyên nước thuộc một trong các trường hợp thuộc đối tượng phải có giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước, gồm: Công trình hồ chứa khai thác nước mặt để phát điện với công suất lắp máy trên 50kW, bao gồm cả công trình thủy lợi kết hợp với thủy điện; công trình hồ chứa khai thác nước mặt có quy mô trên 0,1m3/giây đối với trường hợp cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản; trên 100m3/ngày đêm đối với trường hợp cấp nước cho các mục đích khác; công trình cống, trạm bơm và các công trình khai thác nước mặt khác có quy mô trên 0,1m3/giây đối với trường hợp cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản; trên 100m3/ngày đêm đối với trường hợp cấp nước cho các mục đích khác; công trình khai thác nước dưới đất với quy mô trên 10m3/ngày đêm.

Dự thảo Thông tư quy định về giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước bao gồm 3 chương và 19 Điều và 03 Phụ lục, cụ thể như sau: Chương I quy định những nội dung về phạm vi điều chỉnh (Điều 1); đối tượng áp dụng (Điều 2); nguyên tắc giám sát (Điều 3).

Chương II quy định những nội dung về: Hình thức giám sát (Điều 4); Hệ thống giám sát (Điều 5); yêu cầu đối với hạ tầng mạng, máy chủ và phần mềm giám sát (Điều 6); yêu cầu đối với cơ sở dữ liệu giám sát (Điều 7); yêu cầu đối với thiết bị đo đạc, kết nối, truyền số liệu của cơ sở có công trình (Điều 8); chia sẻ, khai thác dữ liệu giám sát tài nguyên nước (Điều 9); giám sát hoạt động khai thác, sử dụng đối với công trình hồ chứa để phát điện (Điều 10); giám sát hoạt động khai thác đối với công trình hồ chứa để sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và cho các mục đích khác (Điều 11); giám sát hoạt động khai thác đối với công trình cống, trạm bơm và các công trình khai thác nước mặt khác (Điều 12); giám sát hoạt động khai thác nước dưới đất (Điều 13).

Chương III quy định những nội dung về: Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (Điều 14); trách nhiệm của Cục Quản lý tài nguyên nước và Cục Công nghệ thông tin và Dữ liệu tài nguyên và Môi trường (Điều 15); Trách nhiệm của Sở Tài nguyên và Môi trường (Điều 16); trách nhiệm của cơ sở khai thác, sử dụng tài nguyên nước (Điều 17); điều khoản chuyển tiếp (Điều 18); Hiệu lực thi hành (Điều 19).

Các Phụ lục gồm: Yêu cầu chi tiết đối với phần mềm giám sát và kết nối, chia sẻ thông tin giám sát (Phụ lục 01); yêu cầu về hệ thống cơ sở dữ liệu giám sát (Phụ lục 02); yêu cầu đối với thiết bị/hệ thống nhận, truyền và quản lí dữ liệu tại cơ sở khai thác, sử dụng tài nguyên nước (Phụ lục 03).

 


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan