Chủ nhật, 22/05/2022 - 08:18
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Kiểm soát chất lượng nước mặt

Trong giai đoạn 2016-2020, với sự nỗ lực quản lý và kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm, chất lượng nước trên một số lưu vực sông lớn như: Hồng - Thái Bình, Mã, Vũ Gia - Thu Bồn và lưu vực sông Cửu Long được duy trì hoặc dần được cải thiện ở mức tốt; nhiều đoạn sông, nguồn nước phía thượng nguồn sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại tình trạng ô nhiễm cục bộ tại một số khu vực, chất lượng nước ở mức kém mặc dù đã có sự cải thiện so với các giai đoạn trước, các điểm nóng về ô nhiễm vẫn chưa được cải thiện rõ rệt, điển hình như ô nhiễm trên các sông nội thành Hà Nội (Tô Lịch, Kim Ngưu, sông Sét,…) thuộc lưu vực sông Nhuệ - Đáy; ô nhiễm sông Ngũ Huyện Khê thuộc lưu vực sông Cầu; ô nhiễm tại hệ thống kênh Tân Hoá - Lò Gốm, Tàu Hũ - Bến Nghé, Tham Lương - Bến Cát - Vàm Thuật,… thuộc lưu vực sông Đồng Nai.

Suy thoái, ô nhiễm môi trường nước trên các lưu vực sông xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó nguyên nhân chính là do phải tiếp nhận chất thải từ các nguồn xả thải vào sông, suối. Nguồn gây suy thoái, ô nhiễm nguồn nước chủ yếu bao gồm nước thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, làng nghề, y tế và một lượng không nhỏ chất thải rắn không được kiểm soát. Trong đó, lượng nước thải sinh hoạt, nông nghiệp (bao gồm cả nuôi trồng thủy sản), công nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ lớn nhất trong cơ cấu các loại hình nước thải phát sinh, xả vào nguồn nước.

Mặc dù nước thải sinh hoạt chiếm tỷ lệ hơn 30% tổng lượng nước thải trực tiếp ra môi trường, nhưng hiện mức độ thu gom và xử lý còn rất thấp. Hệ thống thoát nước đô thị chủ yếu dùng chung cho cả thoát nước thải và nước mưa là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến khó khăn trong việc thu gom, xử lý nước thải tập trung tại các khu đô thị hiện nay. Trong những năm gần đây số lượng công trình xử lý nước thải đô thị tập trung có tăng, tuy nhiên con số này còn rất nhỏ so với yêu cầu thực tế cần xử lý. Nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý thải ra môi trường đang được coi là một trong những nguyên nhân chính gây suy giảm chất lượng nước các dòng sông. Theo thống kê của Tổng cục Môi trường, có khoảng 7.680.000 m3/ngày.đêm nước thải sinh hoạt phát sinh từ các đô thị loại 4 trở lên, trong đó, tỷ lệ đô thị loại 4 trở lên có hệ thống xử lý nước thải tập trung mới đạt 21,35%, với 49 nhà máy, trạm xử lý nước thải đô thị tập trung đang được khai thác, vận hành. Tỷ lệ thu gom, XLNT sinh hoạt đô thị trên toàn quốc trung bình ước đạt khoảng 12,5%. Với lượng lớn nước thải đô thị chưa qua xử lý xả thẳng vào các đoạn sông chảy qua thành phố, đô thị, gây quá tải cục bộ làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng nước. Mức độ gia tăng dân số và chất lượng sống của người dân ngày một nâng cao cũng đi liền với sự gia tăng nhu cầu sử dụng nước của mỗi người dân, dẫn đến lượng nước thải sinh hoạt ngày càng tăng nhưng đầu tư hạ tầng thu gom và xử lý chưa đáp ứng yêu cầu.

Hiện nay, trên phạm vi cả nước có trên 300 khu công nghiệp (KCN) đang hoạt động, tổng lượng nước thải khoảng 510.000 m3/ngày.đêm. Trong đó, đã có 250/280 KCN, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải (XLNT) tập trung đạt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường, đạt 89%. Tại các địa phương có số lượng KCN lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Long An, Quảng Ninh, Bắc Ninh,... tỷ lệ này đều đạt 100%. Đối với các KCN còn lại chưa có hệ thống XLNT tập trung, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trong KCN đã tự đầu tư hệ thống XLNT đạt QCVN về môi trường trước khi xả ra môi trường theo hồ sơ môi trường đã được phê duyệt. Trong số các KCN đã có hệ thống XLNT tập trung, có 219/250 KCN đầu tư lắp đặt thiết bị quan trắc nước thải tự động, liên tục truyền số liệu về cơ quan quản lý môi trường, đạt tỷ lệ trên 87,6%. Công tác phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường đã và đang được các KCN nghiêm túc triển khai thực hiện.

Nước thải từ các làng nghề hầu như không được xử lý, đổ trực tiếp ra hệ thống sông, kênh mương, gây ra tình trạng ô nghiễm nghiêm trọng. Hóa chất BVTV, phân bón từ hoạt động canh tác, trồng trọt cũng là một trong các nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước. Ước tính mỗi năm có khoảng 70 nghìn kg và hơn 40 nghìn lít thuốc trừ sâu cùng khoảng 70 nghìn kg vỏ bao hoá chất không được xử lý xâm nhập vào môi trường. Người nông dân thường có xu hướng sử dụng phân bón nhiều hơn mức được khuyến nghị. Trong khi đó, hiệu quả sử dụng phân bón thấp, ước tính chỉ khoảng 60% cho Ni tơ, 40% cho Phốt pho và 50% cho Kali. Theo quy định, cơ sở chăn nuôi có tổng lượng nước thải nhỏ hơn 2 m3/ngày phải có hệ thống thu gom và hệ thống lắng, ủ nước thải hợp vệ sinh; cơ sở chăn nuôi có tổng lượng nước thải từ 2 m3/ ngày đến dưới 5 m3/ngày phải có hệ thống thu gom và hệ thống xử lý chất thải đủ công suất như biogas hoặc đệm lót sinh học phù hợp. Tuy nhiên, việc thực hiện trên thực tế còn khó khăn, bất cập.

Trong khi chất lượng nguồn nước mặt tại các lưu vực sông nhìn chung đang dần từng bước được kiểm soát và cải thiện, thì tình hình suy thoái, ô nhiễm nước trong hệ thống các công trình thuỷ lợi và các nguồn nước nội đồng đang có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây. Nhiều nơi đã xảy ra tình trạng ô nhiễm nặng theo ghi nhận và báo cáo của nhiều địa phương trong cả nước. Đặc biệt trong khoảng 3 năm trở lại đây, nhiều đoạn sông, kênh trong một số hệ thống công trình thuỷ lợi đã xảy ra tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng kéo dài, đáng báo động, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội của nhiều địa phương, điển hình như hệ thống Bắc Hưng Hải, Bắc Đuống, Bắc Nam Hà,… Có thể xác định một số nguyên nhân chính khiến chất lượng nguồn nước trong các hệ thống công trình thủy lợi ngày càng suy giảm, như sau: Chất thải, nước thải xả vào các hệ thống công trình thủy lợi ngày càng gia tăng, đặc biệt là nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý xả trực tiếp vào hệ thống công trình thủy lợi; việc lạm dụng phân bón, hóa chất, thuốc trừ sâu trong sản xuất nông nghiệp; tình trạng thiếu nước, mực nước mùa kiệt trên nhiều hệ thống sông có xu hướng giảm rõ rệt trong những năm gần đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho ô nhiễm thêm trầm trọng.

Bên cạnh đó, các quy trình vận hành hệ thống công trình thuỷ lợi chủ yếu nhằm khai thác, sử dụng nước phục vụ tưới tiêu, thường chỉ xây dựng cho các công trình đầu mối và hệ thống sông trục chính; chưa tính đến vận hành các công trình tiêu nước thải và vận hành hệ thống để giảm thiểu ô nhiễm, cải thiện chất lượng nguồn nước trong hệ thống; Nhiều công trình được xây dựng đã lâu, qua thời gian dài sử dụng đã bị xuống cấp do thiếu kinh phí duy tu, bảo dưỡng, nhiều đoạn kênh, sông bị bồi lắng làm hạn chế khả năng dẫn nước, hệ thống thủy lợi chung đường cấp và thoát nước, thiếu dòng chảy môi trường. 

Tình trạng xâm nhập mặn diễn ra ở hầu hết các cửa sông ven biển thuộc lưu vực sông Hồng - Thái Bình, Mã, Cả, Vu Gia - Thu Bồn, Đồng Nai, Cửu Long với phạm vi và mức độ khác nhau, trong đó diễn ra gay gắt và ảnh hưởng lớn nhất đến lưu vực sông Cửu Long (ĐBSCL). Trong năm hạn 2016 tại ĐBSCL, phạm vi xâm nhập mặn vào đất liền sâu nhất lên đến hơn 90km, độ mặn lớn nhất tại các khu vực lớn hơn và vào sâu hơn so với trung bình nhiều năm từ 10-25km và gây thiệt hại cho khoảng 215.400 ha lúa, một số diện tích rau màu, cây ăn trái, 68.900 ha nuôi trồng thủy sản và 107.000 hộ bị ảnh hưởng thiếu nước sinh hoạt. Trong đầu năm 2020, tình trạng xâm nhập tiếp tục diễn ra gay gắt tại ĐBSCL, chiều sâu ranh mặn 4 g/l trên sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây có phạm vi xâm nhập mặn 87-110 km; sông Cửu Tiểu, Cửa Đại phạm vi xâm nhập mặn từ 55-60 km; sông Hàm Luông phạm vi xâm nhập mặn từ 68-78 km; sông Cổ Chiên phạm vi xâm nhập mặn từ 55-68 km; sông Hậu phạm vi xâm nhập mặn từ 60-67 km; sông Cái Lớn phạm vi xâm nhập mặn từ 50-58 km.


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan