Thứ 2, 23/05/2022 - 09:04
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Trình phê duyệt Chiến lược phát triển ngành khí tượng thuỷ văn

Vừa qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành khí tượng thuỷ văn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Theo đó, dự thảo Chiến lược gồm 04 phần: Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu, tổ chức thực hiện, kèm theo đó là danh mục chương trình, đề án, dự án thuộc thẩm quyền phê duyệt của Bộ trưởng.

Về mục tiêu phát triển ngành khí tượng thuỷ văn

Theo dự thảo Chiến lược trình Thủ tướng Chính phủ, mục tiêu đến năm 2030 là phát triển ngành khí tượng thuỷ văn của Việt Nam đạt trình độ khoa học công nghệ tiên tiến của khu vực Châu Á; đủ năng lực cung cấp thông tin, dữ liệu khí tượng thuỷ văn đầy đủ, tin cậy, kịp thời đáp ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia; hình thành được thị trường dịch vụ, công nghệ khí tượng thuỷ văn phục vụ đa phục tiêu, đa lĩnh vực. Mục tiêu đến năm 2045 là phát triển ngành khí tượng thuỷ văn của Việt NAm có trình đọo, năng lực tương đương các nước phát triển trên thế giới.

Các mục tiêu được dự thảo Chiến lược đặt ra phù hợp với năng lực thực tế, có tính đến dự báo nhu cầu phát triển của khoa học và công nghệ trong lĩnh vực khí tượng thuỷ văn, đồng thời đồng bộ với mục tiêu phát triển tổng thể quốc gia giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030

Dự thảo Chiến lược đặt ra chỉ tiêu cụ thể đối với các nội dung chính là:

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, chính sách, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực khí tượng thuỷ văn: Tăng cường năng lực xây dựng thể chế của cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực khí tượng thuỷ văn; đào tạo, bồi dưỡng đạt 100% số lượng người làm công tác khí tượng thuỷ văn có hiểu biết cơ bản về hệ thống thể chế, chính sách, các nội dung quản lý nhà nước về lĩnh vực khí tượng thuỷ văn; tối thiểu đạt 90% số lượng cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong ngành khí tượng thuỷ văn được tham gia các khóa học nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

Thứ hai, về quan trắc khí tượng thuỷ văn, dự thảo Chiến lược đặt ra chỉ tiêu đến năm 2030, phát triển, hiện đại hóa mạng lưới quan trắc khí tượng thuỷ văn theo hướng tự động hóa, đồng bộ, tăng dày mật độ trạm, ưu tiên phát triển tại các khu vực thường xuyên xảy ra các hiện tượng thiên tai nguy hiểm so với năm 2020, đồng thời ưu tiên phát triển trạm khí tượng thuỷ văn quốc gia, ven biển, vùng núi phía Bắc Bộ, Trung Bộ và khu vực thường xuyên xảy ra thiên tai khí tượng thuỷ văn; phát triển các loại trạm hải văn dạng phao di động trên các vùng biển ngoài khơi nơi không có trạm đảo, tự động hóa đạt 100% các trạm khí tượng ven biển; tập trung phát triển trạm thời tiết di động ở các vùng ven biển và hải đảo; tiếp tục hiện đại hoá hệ thống trạm quan trắc radar... Đồng thời, đến năm 2030, phát triển, hoàn thiện mạng lưới quan trắc khí tượng thuỷ văn của bộ, ngành, địa phương, tổ chức, cá nhân trong các lĩnh vực liên quan; phấn đấu đạt 100% tại các công trình phải quan trắc và cung cấp thông tin, dữ liệu khí tượng thuỷ văn theo quy định của pháp luật.

Các chỉ tiêu về phát triển, hiện đại hóa mạng lưới quan trắc khí tượng thuỷ văn bám sát kế hoạch đầu tư công trung hạn, nhu cầu phát triển hoạt động khí tượng thuỷ văn và xu thế phát triển khoa học công nghệ, bảo đảm tính khả thi, phù hợp.

Thứ ba, về thông tin, dữ liệu, truyền tin và xây dựng tài nguyên số thông tin khí tượng thuỷ văn: Đây là lĩnh vực công tác được xác định chỉ tiêu tăng mạnh so các chỉ tiêu trong Chiến lược giai đoạn trước, bám sát định hướng chuyển đổi số của Chính phủ, của ngành tài nguyên và môi trường trong giai đoạn tới. Cụ thể là đến năm 2030, ứng dụng các công nghệ của cách mạng 4.0 để phát triển hạ tầng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu kỹ thuật đảm bảo an toàn thông tin đạt cấp độ 3-4; cung cấp dịch vụ công đạt mức độ 4; 100% số liệu khí tượng thuỷ văn quốc gia được thu nhận, kiểm soát, lưu trữ, khai thác sát theo thời gian thực; 100% số liệu quan trắc khí tượng thuỷ văn tại các công trình phải quan trắc và cung cấp thông tin, dữ liệu khí tượng thuỷ văn được thu nhận, tích hợp vào cơ sở dữ liệu khí tượng thuỷ văn quốc gia.

Thứ tư, về công tác dự báo, cảnh báo khí tượng thuỷ văn, Bộ Tài nguyên và Môi trường xác định công tác dự báo có vai trò đặc biệt quan trọng, là thước đo hiệu quả phục vụ cộng đồng, xã hội, người dân đối với công tác khí tượng thuỷ văn. Từ các điều kiện thực tế về khoa học công nghệ, năng lực đội ngũ, dự thảo Chiến lược đặt ra chỉ tiêu đến năm 2030, bảo đảm dự báo khí tượng thuỷ văn hàng ngày trong điều kiện bình thường có độ tin cậy đạt 80-85%; dự abso đủ độ tin cậy sự hình thành áp thấp nhiệt đới và bão trước 1-2 ngày; quỹ đạo và cường độ áp thấp nhiệt đới trước 03 ngày, quỹ đạo và cường độ bão trước 05 ngày; tăng chất lượng dự báo định lượng mưa lớn trước 02-03 ngày lên 10-15% so với năm 2020; cảnh báo lũ quét, sạt lở đất trước 06 đến 24 giờ và đủ độ tin cậy; tăng thời hạn dự báo thời tiết đến 2 tuần.

Bên cạnh chỉ tiêu trên, dự thảo Chiến lược đặt ra chỉ tiêu đối với việc phát triển thị trường dịch vụ, công nghệ khí tượng thuỷ văn, công tác truyền thông khí tượng thuỷ văn.

Về nhiệm vụ và giải pháp

Dự thảo Chiến lược đưa ra 05 nhóm nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu để phát triển ngành khí tượng thuỷ văn đến năm 2030, bao gồm: hoàn thiện hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách, tăng cường quản lý nhà nước về khí tượng thuỷ văn; hiện đại hoá hệ thống quan trắc, thông tin, nâng cao năng lực công nghệ khí tượng thuỷ văn; đẩy mạnh xã hội hoá, thương mại hoá, xây dựng và hình thành thị trường dịch vụ công nghệ khí tượng thuỷ văn; phát triển nguồn nhân lực, ứng dụng khoa học công nghệ và tăng cường hợp tác quốc tế khí tượng thuỷ văn; tăng cường công tác truyền thông, nâng cao nhận thức cộng đồng.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan