Thứ 5, 18/08/2022 - 02:27
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Dự kiến nội dung cơ bản của dự thảo Quyết định ban hành danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính

Dự thảo Quyết định trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định bao gồm 2 Điều, cụ thể: Điều 1 ban hành danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính, bao gồm các lĩnh vực (Phụ lục 1 ban hành kèm theo dự thảo Nghị định) và các cơ sở (các Phụ lục 2, 3, 4, 5 ban hành kèm theo dự thảo Nghị định) và Điều 2 quy định về hiệu lực thi hành.

 Các lĩnh vực phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính bao gồm: 1) Năng lượng có 04 lĩnh vực cụ thể; 2) Giao thông vận tải có 01 lĩnh vực cụ thể; 3) Xây dựng có 02 lĩnh vực cụ thể; 4) Các quá trình công nghiệp có 05 lĩnh vực cụ thể; 5) Nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất có 05 lĩnh vực cụ thể; 6) Chất thải có 04 lĩnh vực cụ thể.

Đối với Danh mục cơ sở phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính bao gồm 2.290 cơ sở, cụ thể: (1) Ngành công thương có 1.939 cơ sở; (2) Ngành giao thông vận tải có 94 cơ sở; (3) Ngành xây dựng có 181 cơ sở; (4) Ngành tài nguyên và môi trường có 76 cơ sở. Việc xác định danh mục các lĩnh vực phải kiểm kê khí nhà kính được xây dựng trên cơ sở các quy định về kiểm kê khí nhà kính cấp lĩnh vực, cấp quốc gia của Công ước, Thỏa thuận Paris và hướng dẫn của Ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC). Các lĩnh vực phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính đã được quy định tại Phụ lục 1 của dự thảo Quyết định theo chức năng, nhiệm vụ của các Bộ; cơ chế phối hợp trong cung cấp thông tin, số liệu hoạt động phục vụ kiểm kê khí nhà kính cấp quốc gia được quy định tại dự thảo Nghị định quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn đã trình Chính phủ xem xét ban hành. Việc xác định tiêu chí xác định các cơ sở phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính được xây dựng theo quy định tại khoản 3 Điều 91 Luật Bảo vệ môi trường, bao gồm (i) tỷ trọng phát thải khí nhà kính trên tổng phát thải khí nhà kính quốc gia của các cơ sở thuộc danh mục phải đảm bảo ở mức có thể giám sát các cơ sở có mức phát thải lớn; (ii) góp phần thực hiện các biện pháp giảm nhẹ phát thải khí nhà kính đã cam kết với cộng đồng quốc tế theo lộ trình phù hợp với điều kiện và tình hình phát triển kinh tế - xã hội; (iii) được xác định trên cơ sở mức tiêu thụ nhiên liệu, năng lượng trên đơn vị sản phẩm, dịch vụ đối với các lĩnh vực khác nhau đảm bảo tính thống nhất, công bằng, minh bạch. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu danh mục các cơ sở tiêu thụ năng lượng trọng điểm đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành nhằm đánh giá mức tiêu thụ nhiên liệu, năng lượng trên đơn vị sản phẩm của các cơ sở thuộc danh mục và tham khảo kinh nghiệm của một số nước như Châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Trung Quốc… về quản lý phát thải khí nhà kính cấp cơ sở, hướng tới việc áp dụng hạn ngạch phát thải khí nhà kính đối với các cơ sở. Đối với nước ta hiện nay mới bắt đầu quản lý hoạt động phát thải khí nhà kính cấp cơ sở, tiêu chí đưa ra hiện nay mới chỉ đáp ứng việc nắm bắt thông tin phát thải khí nhà kính của các cơ sở thuộc 7 danh mục chiếm khoảng 30% tổng phát thải khí nhà kính quốc gia, lộ trình quản lý sẽ tăng dần trong thời gian tới. Trên cơ sở đó, tiêu chí xác định các cơ sở thuộc danh mục được xây dựng theo lượng tiêu thụ năng lượng, nhiên liệu hằng năm từ 1.000 tấn dầu tương đương (TOE) trở lên. Đối với các loại hình cơ sở chưa có nguồn số liệu về lượng tiêu thụ năng lượng, nhiên liệu hằng năm, tiêu chí xác định theo công suất, quy mô của các loại hình cơ sở, phân loại phù hợp với yêu cầu của Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu và chức năng, nhiệm vụ, năng lực quản lý của các ngành liên quan. Tiêu chí xác định các cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính được quy định tại khoản 1 Điều 6 của dự thảo Nghị định quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn đã được thống nhất với các Bộ quản lý lĩnh vực, cụ thể danh mục cơ sở phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính dự kiến là các cơ sở có mức phát thải khí nhà kính hằng năm từ 3.000 tấn CO2 tương đương trở lên hoặc thuộc các đối tượng: (i) Các nhà máy nhiệt điện, cơ sở sản xuất công nghiệp có tổng lượng tiêu thụ năng lượng hằng năm từ 1.000 tấn dầu tương đương (TOE) trở lên; (ii) Các công ty kinh doanh vận tải hàng hoá có tổng tiêu thụ nhiên liệu hằng năm từ 1.000 TOE trở lên; (iii) Các tòa nhà thương mại có tổng tiêu thụ năng lượng hằng năm từ 1.000 TOE trở lên; iv) Cơ sở xử lý chất thải rắn có công suất hoạt động hằng năm từ 65.000 tấn trở lên. Trong giai đoạn hiện nay, đề xuất chưa quy định bắt buộc phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính đối với các cơ sở chăn nuôi (các cơ sở chăn nuôi chiếm 5,8% tổng phát thải khí nhà kính quốc gia) để đảm bảo an sinh, xã hội và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước; chăn nuôi ở nước ta chủ yếu là nhỏ lẻ, hộ gia đình nên sẽ khó khăn khi yêu cầu các cơ sở phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính ngay trong giai đoạn hiện nay. Theo quy định tại dự thảo Nghị định quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn, trong lần báo cáo kết quả kiểm kê khí nhà kính đầu tiên vào năm 2023 sau khi Quyết định có hiệu lực, các Bộ quản lý lĩnh vực sẽ tổ chức xây dựng báo cáo kiểm kê khí nhà kính cấp cơ sở, đồng thời ban hành các hướng dẫn kỹ thuật cụ thể đối với các cơ sở thuộc lĩnh vực quản lý. Từ lần báo cáo tiếp theo vào năm 2025, các cơ sở sẽ có đủ năng lực kỹ thuật để tự thực hiện báo cáo kiểm kê khí nhà kính cấp cơ sở theo quy định.

Các cơ sở phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính được quy định tại các Phụ lục 2, 3, 4, 5 của dự thảo Quyết định phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của các Bộ và cơ chế phối hợp trong cung cấp thông tin, số liệu hoạt động phục vụ kiểm kê khí nhà kính các cấp được quy định tại dự thảo Nghị định quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan