Thứ 6, 30/09/2022 - 16:21
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Sử dụng hiệu quả tài nguyên trở thành thành nguồn lực quan trọng cho phát triển

Các nguồn tài nguyên từng bước được quản lý chặt chẽ, sử dụng hiệu quả trở thành thành nguồn lực quan trọng cho phát triển, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

Từng bước quản lý chặt chẽ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, phát huy nguồn lực đất đai vào phát triển sản xuất kinh doanh.

Cả nước đã thực hiện giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất với gần 319 nghìn ha để giải quyết nhu cầu nhà ở, phát triển sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng; đưa hơn 63 nghìn ha đất chưa sử dụng vào các mục đích phát triển kinh tế -xã hội. Tình trạng sử dụng lãng phí đất đai đã được khắc phục căn bản tình trạng lãng phí đất đai. Xử lý xử lý, thu hồi, hủy bỏ các dự án chậm triển khai để hoang hóa dất đai với diện tích gần 30 nghìn ha . Hiệu quả sử dụng đất tăng gấp 2 lần so với đầu kỳ. Thu từ đất chiếm 12%-15% thu ngân sách nội địa hàng năm cao gấp gần 2,5 lần năm 2015. Hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận đối với 97,36% diện tích cần cấp, tăng 3,3 triệu giấy so với năm 2016; tỷ lệ khiếu kiện giảm 38% so với giai đoạn 2011-2015. 

Tài nguyên nước từng bước được quản lý, khai thác hiệu quả, dần nâng cao mức đảm bảo an ninh nguồn nước

Hoàn thành việc điều chỉnh, bổ sung các quy trình vận hành liên hồ chứa, tổ chức giám sát việc vận hành, điều tiết nguồn nước phục vụ đa mục tiêu, giảm thiểu thiệt hại trước tình trạng hạn hán kéo dài. Kiểm soát ô nhiễm môi trường các lưu vực sông, thực hiện các giải pháp tổng thể để xanh hoá các dòng sông. Đẩy mạnh kinh tế hoá, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả; phê duyệt tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước đến nay đạt 9.354 tỷ đồng. 

Công tác điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản đạt được nhiều thành tựu mới, tiềm năng khoáng sản, giá trị về địa chất từng bước được chuyển hoá thành các nguồn lực

Đã hoàn thành công tác lập bản đồ địa chất và điều tra khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 cho 70% diện tích phần đất liền lãnh thổ Việt Nam và ở tỷ lệ 1:500.000 đối với khoảng 40% tổng diện tích vùng biển Việt Nam. Nguồn thu ngân nhà nước từ khoáng sản bình quân mỗi năm khoảng 5 nghìn tỷ đồng. 

Nghiên cứu khoa học, điều tra cơ bản, quản lý, khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên môi trường biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng được chú trọng

Đến nay, đã hoàn thành việc điều tra địa hình đáy biển đạt 24,5% diện tích các vùng biển ở các tỷ lệ từ 1:500.000 đến 1:50.000.000. Đã hình thành và phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp gắn với hình thành chuỗi đô thị ven biển, các địa phương có biển đã trở thành khu vực phát triển năng động, thu hút nguồn lực đầu tư, một số tỉnh, thành phố đã trở thành cực tăng trưởng.

Công tác quản lý, bảo vệ môi trường đã có những chuyển biến mạnh mẽ từ nhận thức đến hành động; chuyển từ bị động giải quyết sang chủ động phòng ngừa

Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom xử lý tăng trung bình 6%/năm, nhiều địa phương đã có mô hình xử lý hiệu quả như Nghệ An, Quảng Ninh, Ninh Bình, Quảng Bình, Cần Thơ, điển hình tại Đồng Nai tỷ lệ rác thải chôn lấp còn 43%; tỷ lệ thu gom xử lý chất thải rắn công nghiệp đạt 90%; tỷ lệ tro xỉ được tái sử dụng đạt trên 50%. tỷ lệ KCN, KCX đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường đạt 90%; số xã đạt tiêu chí chuẩn nông thôn mới về môi trường tăng 8,3%. Tỷ lệ chất thải nguy hại được xử lý đạt 85%.

Nâng cao chất lượng dự báo, chủ động sản xuất, ứng phó giảm thiểu tác động của thiên tai, chủ động đề xuất các các biện pháp tổng thể, dài hạn nhằm chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu

Mạng lưới quan trắc khí tượng thủy văn đã từng bước được phát triển cả về số lượng và chất lượng theo hướng tự động hóa; từng bước hình thành hệ thống thông tin chuyên ngành hiện đại, nâng cao chất lượng dự báo hạn dài, hạn ngắn đủ độ chi tiết. Dự báo chính xác các xu thế thời tiết, các hiện tượng thời tiết cực đoan tiệm cận với các nước tiên tiến trong khu vực.

Ban hành chiến lược tổng thể nhằm chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu như: cập nhật kịch bản ứng phó với biến đổi khí hậu và đề xuất giải pháp thích ứng; Nghị quyết số số 120/NQ-CP với tầm nhìn 100 năm và tư duy đột phá biến thách thức thành cơ hội phát triển, kết nối đồng bằng sông Cửu Long với vùng Thành phố Hồ Chí Minh và tiểu vùng Mê Công. Xây dựng được trên 300 hành động chính sách liên quan đến ứng phó với BĐKH.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan