Chủ nhật, 26/06/2022 - 12:25
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Hà Nam liên quan đến lĩnh vực môi trường

          Sau kỳ họp thứ 1, Quốc hội khoá XV, cử tri tỉnh Hà Nam có một số vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện một số văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

 

          Thứ nhất, cử tri đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường tham mưu sửa đổi nội dung phân cấp tại điểm 6 khoản 9 Điều 1 Nghị định số 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019: "Trách nhiệm của cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường cấp tỉnh nơi triển khai dự án". Nội dung sửa đổi: Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường kiểm tra, thông báo kế hoạch vận hành thử nghiệm và kết quả vận hành thử nghiệm của dự án do Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường; cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường cấp tỉnh nơi triển khai dự án kiểm tra, thông báo kế hoạch vận hành thử nghiệm và kết quả vận hành thử nghiệm của dự án thuộc thẩm quyền phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

 Đối với nội dung cử tri nêu, Bộ Tài nguyên và Môi trường xin ghi nhận, tiếp thu, nghiên cứu trong quá trình xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.

          Thứ hai, theo cử tri, việc xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường theo quy định tại khoản 9,10, Điều 1 Nghị định số 40/2019/NĐ-CP gây mất thời gian và kinh phí cho các doanh nghiệp. Đề nghị việc lấy mẫu tổ hợp từng công đoạn của hệ thống xử lý chất thải chỉ áp dụng với loại hình sản xuất công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường tại phụ lục IIa, Nghị định số 40/2019/NĐ-CP

Về vấn đề cử tri nêu, Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời như sau:

Về quy định quan trắc chất thải trong quá trình vận hành thử nghiệm các công trình xử lý chất thải tại khoản 9 Điều 1 Nghị định số 40/2019/NĐ-CP

Đây là quy định được Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu, cân nhắc kỹ lưỡng trong quá trình xây dựng Nghị định, đặc biệt là tham khảo ý kiến chuyên gia và kinh nghiệm của các nước trên thế giới, cụ thể là:

Trên thế giới, việc lấy mẫu, lập kế hoạch lấy mẫu nước thải để đo đạc, phân tích, đánh giá hiệu suất của từng công đoạn xử lý và đánh giá sự phù hợp của toàn bộ công trình xử lý nước thải được thực hiện theo ISO 5667-10:1992 về chất lượng nước - lấy mẫu và hướng dẫn lấy mẫu nước thải; và ISO 5667-1:2006 về chất lượng nước - lấy mẫu và hướng dẫn lập chương trình lấy mẫu. Mẫu tổ hợp trong các tiêu chuẩn ISO nêu trên được sử dụng để đánh giá hiệu quả của công trình xử lý chất thải.

Ở Việt Nam, việc lấy mẫu, lập kế hoạch lấy mẫu nước thải để đo đạc, phân tích, đánh giá hiệu suất của từng công đoạn xử lý và đánh giá sự phù hợp của toàn bộ công trình xử lý nước thải được thực hiện theo TCVN 5999:1995 (được dịch từ ISO 5667-10:1992) về chất lượng nước - lấy mẫu và hướng dẫn lấy mẫu nước thải; và TCVN 6663-1:2011 (được dịch từ ISO 5667-1:2006) về chất lượng nước - lấy mẫu và hướng dẫn lập chương trình lấy mẫu. Các TCVN này được Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành theo đúng quy định của pháp luật và được dẫn chiếu áp dụng trong các QCVN về môi trường (ví dụ QCVN 40:2011/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp). Tại Mục 5.13 của TCVN 5999:1995 quy định những mục tiêu điển hình khi chọn địa điểm lấy mẫu ở các trạm xử lý nước thải là: Kiểm tra hiệu quả của trạm xử lí về tổng thể (các mẫu cần lấy ở đầu vào chính và đầu ra chính); Kiểm tra hiệu quả xử lý của từng công đoạn hoặc một nhóm các công đoạn (các mẫu cần lấy ở đầu vào và đầu ra của bộ phận cần kiểm tra).

Thực tiễn ở Việt Nam, khi xây lắp công trình xử lý chất thải, các nhà thầu vẫn thường chủ động thực hiện lấy mẫu tổ hợp để đánh giá hiệu quả, điều chỉnh công trình xử lý chất thải trong quá trình vận hành thử nghiệm nhưng không cung cấp kết quả đánh giá cho chủ dự án khi nghiệm thu, bàn giao công trình. Điều này dẫn tới trong một số trường hợp khi công trình xử lý chất thải đưa vào sử dụng lại không đáp ứng QCVN nên chủ dự án phải tốn kém về chi phí và thời gian để khắc phục.

Xuất phát từ thực tế trên, Nghị định số 40/2019/NĐ-CP và Thông tư số 25/2019/TT-BTNMT quy định quá trình đo đạc, lấy mẫu và phân tích mẫu chất thải để đánh giá hiệu quả công trình xử lý chất thải theo mẫu tổ hợp phải được công khai, minh bạch và các cơ quan liên quan có quyền được biết, đánh giá.

Về quy định kiểm tra, xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường khoản 10 Điều 1 Nghị định số 40/2019/NĐ-CP

Trên thực tế, quy định tại khoản 10 Điều 1 Nghị định số 40/2019/NĐ-CP đã có nhiều cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính cho doanh nghiệp thông qua các quy định tích hợp nội dung xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường vào quá trình cấp giấy xác nhận đủ điều kiện về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất, cấp giấy phép xử lý chất thải nguy hại; tích hợp nội dung cấp phép xả khí thải công nghiệp vào giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường. Đây là tiền đề quan trọng để Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 quy định tích hợp 07 loại giấy phép, giấy xác nhận, đăng ký vào chung 01 loại là giấy phép môi trường.

Tuy nhiên, tiếp thu ý kiến của cử tri, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ nghiên cứu để chỉnh sửa, hoàn thiện trong quá trình xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan