Thứ 2, 23/05/2022 - 09:58
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tăng cường công tác cảnh báo, dự báo về ảnh hưởng của thiên tai

Trước những diễn biến phức tạp khó lường của thiên tai, biến đổi khí hậu, cử tri tỉnh Thái Bình đề nghị các cấp quan tâm tăng cường công tác dự báo, cảnh báo về ảnh hưởng của thiên tai.

 

Vấn đề cử tri nêu, Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời như sau:

Thực trạng công tác dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn

Trong những năm gần đây, độ chính xác, độ tin cậy trong các bản tin dự báo, cảnh báo thiên tai ngày càng được nâng cao. Trong dự báo, cảnh báo bão, mưa lớn, lũ lụt vốn là những loại hình thời tiết rất nguy hiểm, tác động và gây thiệt hại trên diện rộng về cơ bản đã đáp ứng được những yêu cầu của công tác phòng chống thiên tai, góp phần giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra. Cụ thể như sau:

Về dự báo, cảnh báo bão: độ chính xác trong bản tin dự báo bão (vị trí và cường độ bão) của Việt Nam đã dần tiệm cận với trình độ dự báo bão của các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.

Dự báo, cảnh báo mưa lớn: trước 2-3 ngày với độ tin cậy khoảng 75%. Đối với mưa lớn cục bộ hoặc mưa lớn trong cơn dông: mới chỉ cảnh báo trước từ 30 phút đến 2-3 giờ; Dự báo, cảnh báo rét đậm, rét hại gây ra bởi không khí lạnh: trước 2-3 ngày với độ tin cậy 80-90%; Dự báo, cảnh báo lũ trên các sông khu vực miền Trung, Tây Nguyên trước 1-2 ngày và ở khu vực Bắc Bộ trước 3-5 ngày thường đạt 70-80%; Dự báo, cảnh báo các đợt nắng nóng diện rộng: trước từ 2-3 ngày có độ tin cậy 70%, thời điểm kết thúc các đợt nắng nóng diện rộng chính xác từ 80-90%; Các loại hình thiên tai khác như lốc, sét, mưa đá,… chỉ có thể đưa ra cảnh báo khả năng xuất hiện trên vùng rộng, khu vực chi tiết chỉ cảnh báo trước được từ 30 phút đến 1 giờ, nhưng cũng chỉ thực hiện được ở khu vực có phủ ra đa thời tiết.

Nguyên nhân

Bên cạnh những mặt tích cực, việc dự báo có tiến bộ nhiều về mặt định tính (khu vực, thời gian, hướng di chuyển, ảnh hưởng gián tiếp của thiên tai), về mặt dự báo định lượng (cường độ bão, cường độ mưa lớn,...) vẫn còn những hạn chế. Khái quát một số điểm còn hạn chế của dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn ở Việt Nam hiện nay như sau: Biến đổi khí hậu toàn cầu làm các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng gia tăng và trái quy luật cũng đặt ra những thách thức mới cho công tác dự báo khí tượng thủy văn. Các hoạt động kinh tế - xã hội phát triển đa dạng với nhiều ngành, nghề khác nhau và địa bàn của các hoạt động kinh tế - xã hội cũng ngày càng mở rộng cả ở vùng núi và vùng biển, trong đó nhiều vùng có nguy cơ thiên tai khí tượng thủy văn cao.

Mạng lưới quan trắc phục vụ dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn còn quá thưa; có những nơi còn ít thông tin quan trắc như vùng núi phía Bắc, Tây Nguyên,... nên phần nào chưa đáp ứng được yêu cầu số liệu đầu vào của các mô hình dự báo, đặc biệt là các mô hình số trị; Các thông tin, số liệu về vận hành hồ chứa chưa được đồng bộ hóa cùng hệ thống số liệu khí tượng thủy văn; Hệ thống quan trắc, hệ thống thông tin và hệ thống xử lý số liệu, phân tích dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn tuy đã được nâng cấp nhưng vẫn còn hạn chế về công nghệ; Trình độ của cán bộ chuyên môn kỹ thuật nói chung và của dự báo viên nói riêng còn hạn chế, đặc biệt là ở cấp tỉnh/thành phố.

Giải pháp nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn

Để nâng cao tính chính xác, độ tin cậy của các bản tin dự báo, cảnh báo thiên tai trong thời gian tới, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chỉ đạo Tổng cục khí tượng thủy văn có kế hoạch hoàn thiện thể chế, xây dựng các hệ thống quan trắc hiện đại, hệ thống hỗ trợ kỹ thuật, tăng cường công nghệ dự báo, năng lực chuyên môn, đặc biệt là xây dựng và đưa vào dự báo nghiệp vụ dụng mô hình dự báo bão, mưa lớn của Việt Nam; xây dựng hệ thống giám sát biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long, khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Tăng cường đào tạo cán bộ dự báo, mở rộng hợp tác quốc tế, cải tiến thay đổi nội dung, hình thức truyền tin thiên tai trong thời gian tới, cụ thể như sau:

Về văn bản quy phạm pháp luật: Trong những năm vừa qua, với sự quan tâm và chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, công tác dự báo, cảnh báo, ứng phó thiên tai đã có những bước tiến đáng kể. Trên cơ sở thông tin cảnh báo sớm, dài hạn về tình hình khí tượng thủy văn, thiên tai, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ đã tổ chức các Hội nghị và chỉ đạo các địa phương, Bộ, ngành, cơ quan chức năng tập trung làm tốt công tác dự báo, cảnh báo bão, mưa lớn, lũ…  triển khai cụ thể các phương án phòng, chống và khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra. Các Bộ, ngành, các lực lượng ở địa phương đã chủ động điều chỉnh các hoạt động kinh tế - xã hội cơ cấu sản xuất, mùa vụ, triển khai các biện pháp phòng tránh giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra.

Tuy nhiên, trước xu thế biến đổi khí hậu, nước biển dâng diễn ra nhanh, phức tạp, thiên tai ngày càng gia tăng bất thường, cực đoan gây thiệt hại ngày càng nghiêm trọng, đặt ra yêu cầu công tác dự báo, cảnh báo thiên tai phải đổi mới hơn, nâng cao độ tin cậy và đáp ứng yêu cầu xã hội. Nhận thức được điều đó Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg ngày 22/4/2021 quy định về dự báo, cảnh báo, truyền tin thiên tai và cấp độ rủi ro thiên tai (gọi tắt là Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg). Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg này thay thế Quyết định số 03/2020/QĐ-TTg ngày 13/01/2020 quy định về dự báo, cảnh báo và truyền tin thiên tai và Quyết định số 44/2014/QĐ-TTg ngày 15/8/2014 quy định chi tiết về cấp độ rủi ro thiên tai.

Thực hiện Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chỉ đạo Tổng cục Khí tượng thủy văn tổ chức dự báo, cảnh báo thiên tai khí tượng thủy văn với thời hạn ban hành các bản tin dự báo, cảnh báo thiên tai sớm hơn, tần suất tăng hơn và nội dung chi tiết hơn, cụ thể như sau: Đối với các bản tin dự báo, cảnh bão bão và áp thấp nhiệt đới: ban hành sớm hơn từ 30 phút đến 01 tiếng và bổ sung bản tin nhanh được cập nhật hằng giờ trên cổng thông tin điện tử của Tổng cục Khí tượng thủy văn (Điều 13); các bản tin dự báo, cảnh báo lũ tăng tần suất khoảng 01 bản tin/ngày (Điều 16).

Về nội dung các bản tin dự báo, cảnh báo: đưa ra thời gian cảnh báo xa hơn (bản tin dự báo, cảnh báo nắng nóng); bổ sung các bản tin thiên tai được quy định trong Luật sửa đổi, bổ sung Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều (bản tin dự báo, cảnh báo gió mạnh trên biển, sương mù, sạt lở, sụt lún đất do hạn hán tại các Điều 17 đến Điều 19 và Điều 20 đến Điều 22).

 Về cấp độ rủi ro thiên tai: được chi tiết hóa hơn theo các vùng ảnh hưởng (Điều 42 về cấp độ rủi ro thiên tai do áp thấp nhiệt đới, bão; Điều 47 về cấp độ rủi ro thiên tai do nắng nóng; Điều 49 về cấp độ rủi ro thiên tai do xâm nhập mặn…). Một số loại hình thiên tai xảy ra nhanh, mức độ nguy hiểm như: lũ quét sạt lở đất, lốc, sét, mưa đá đã được quy định phân cấp chi tiết hơn theo cấp huyện, xã thuộc tỉnh/thành phố và dựa trên cơ sở xác định phân vùng nguy cơ  của các kết quả nghiên cứu từ các Viện nghiên cứu của Bộ Tài nguyên và Môi trường (Điều 46 Điều 52).

Truyền tin về thiên tai: được quy định chi tiết hóa về đơn vị cung cấp bản tin, thời gian và phương thức cung cấp về thiên tai cũng như chế độ truyền phát tin các loại hình thiên tai cụ thể được quy định chi tiết trong các Điều từ Điều 34 đến Điều 41.

Trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc dự báo, cảnh báo và truyền tin về truyền tin thiên tai: tại Chương IV Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg đã quy định chi tiết trách nhiệm của Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng, chống thiên tai và Ủy ban Quốc gia ứng phó sự cố, thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn (Điều 57). Trách nhiệm của các bộ, Cơ quan ngang bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ (Điều 58). Trách nhiệm của các Cơ quan thông tấn, báo chí (Điều 59) và Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp (Điều 60).

Về công nghệ dự báo, cảnh báo (phương pháp, công nghệ, quy trình, phần mềm, phương pháp,...): Tiếp tục đầu tư xây dựng các hệ thống hỗ trợ kỹ thuật, phát triển công nghệ dự báo số để tăng cường năng lực dự báo từ hạn cực ngắn đến hạn dài; Xây dựng hệ thống mô hình khu vực phân giải cao, đồng hóa số liệu từ nguồn số liệu radar thời tiết, vệ tinh, trạm thám không; Đầu tư xây dựng công nghệ dự báo bão của Việt Nam; Đầu tư xây dựng công nghệ hiện đại dự báo khí tượng thủy văn biển; Xây dựng các hệ thống hỗ trợ kỹ thuật, chi tiết hóa các bản tin dự báo khí tượng thủy văn; tăng cường công nghệ dự báo, năng lực chuyên môn, đặc biệt là xây dựng và đưa vào dự báo nghiệp vụ dụng mô hình dự báo bão của Việt Nam; Chú trọng đặc biệt đến xây dựng, hoàn thiện và giám sát việc thực hiện các quy trình dự báo từ Trung ương đến các Đài khí tượng thủy văn khu vực, Đài khí tượng thủy văn tỉnh.

Về hệ thống quan trắc, tính toán và thiết bị, tính toán, xử lý thông tin và hiển thị sản phẩm (bao gồm cả radar, vệ tinh, máy tính, trạm đo,...): (1) Tăng cường mật độ trạm quan trắc trên biển, số liệu bão trên biển, các trạm đo mưa tự động trên khu vực có địa hình phức tạp, các trạm quan trắc cao không, ra đa. Trong tương lai, xem xét đến khả năng bay thám sát bão bằng máy bay hoặc tên lửa nhằm xác định vị trí, cường độ, tốc độ, hướng di chuyển bão chính xác hơn; (2) Ưu tiên hiện đại hóa hệ thống radar Doppler trên toàn quốc; (3) Đầu tư trang bị hệ thống siêu máy tính hoặc hệ thống máy tính hiệu năng cao; (4) Phát triển và hiện đại hoá hệ thống thông tin liên lạc, thu nhận, xử lý, lưu trữ và cung cấp tư liệu khí tượng thủy văn từ cấp Trung ương tới địa phương.

Về công tác tuyên truyền và đào tạo nâng cao năng lực nhận thức khí tượng thủy văn: Tăng cường công tác tuyên truyền về công tác khí tượng thủy văn nhằm nâng cao năng lực ứng phó với thiên tai khí tượng thủy văn như bão, lũ, lũ quét, hạn hạn, xâm nhập mặn của các cấp chính quyền và nhân dân; phát triển các kênh truyền thông của khí tượng thủy văn như truyền hình, trang thông tin điện tử, mạng xã hội, phát hành các tờ rơi…; thường xuyên tổ chức các Hội nghị truyền thông phổ biến các thông tin cảnh báo, dự báo khí tượng thủy văn với các thành phần khác nhau; xây dựng có chiến lược phát triển đào tạo, tập huấn cụ thể với nguồn đầu tư phù hợp với các cho nhiều nhóm đối tượng khác nhau: các nhà quản lý, báo chí, nhân dân, chú trọng cả học sinh, sinh viên.

Về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực thu hút nguồn nhân lực và hợp tác quốc tế:  Xây dựng cơ chế đặc thù thu hút khuyến khích nguồn nhân lực chất lượng cao trong nước (về lương, thưởng,…) cũng như đãi ngộ các cá nhân có năng lực cao và đang làm việc ở nước ngoài về nước làm việc; Mục tiêu ngắn hạn cần nâng cao chất lượng đội ngũ dự báo viên hiện tại và trong trung hạn, dài hạn xây dựng chiến lược đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực có chất lượng cao đồng thời có phương án sử dụng nhân lực phù hợp sau đào tạo; tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế với các quốc gia có nền khoa học công nghệ cao về khí tượng thủy văn, thúc đẩy cơ chế hợp tác đối tác và hợp tác chuyển giao, chia sẻ kinh nghiệm thay cho việc thuần túy hợp tác tiếp nhận.

Như vậy, với các biện pháp đồng bộ và lộ trình như ở trên sẽ tạo cơ sở để công tác dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn sẽ từng bước nâng cao chất lượng của bản tin, tăng độ chính xác, chất lượng dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn, đưa ra những cảnh báo sớm các loại hình thiên tai cũng như các điều kiện thời tiết nguy hiểm trên biển nói riêng như bão, áp thấp nhiệt đới, gió mạnh, sóng lớn, sương mù…


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan