Thứ 2, 23/05/2022 - 08:49
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tăng cường công tác ứng phó với biến đổi khí hậu

Cử tri thành phố Hà Nội kiến nghị tăng cường công tác ứng phó biến đổi khí hậu, đảm bảo vấn đề an sinh xã hội, xây dựng các công trình phòng, chống thiên tai, có kịch bản phòng chống thiên tai và xây dựng hệ thống dự báo tình hình thiên tai chính xác.

 

Về vấn đề cử tri nêu, Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời như sau:

Trong thời gian qua, Đảng, Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương đã xây dựng, ban hành nhiều chính sách, pháp luật, chiến lược, kế hoạch và triển khai thực hiện nhiều nhiệm vụ, giải pháp để tăng cường ứng phó với biến đổi khí hậu, cụ thể:        

Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương lớn, chính sách quan trọng liên quan đến ứng phó với biến đổi khí hậu, như Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu năm 2011, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh năm 2012 cùng với kế hoạch hành động thực hiện các chiến lược. Nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu đã được thể chế hóa trong một chương của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014; các nội dung quản lý nhà nước về biến đổi khí hậu đã được luật hóa đầy đủ hơn trong Luật Bảo vệ môi trường 2020.

Trong giai đoạn 2015-2020, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng Đóng góp dự kiến do quốc gia tự quyết định (INDC) gửi Ban thư ký Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) với những cam kết đóng góp cả về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và thích ứng với biến đổi khí hậu. Tại Hội nghị lần thứ 21 (COP21) năm 2015, các bên tham gia Công ước đã thông qua Thoả thuận Paris về biến đổi khí hậu. Việt Nam ký và phê duyệt Thoả thuận Paris lần lượt vào tháng 4 và tháng 10 năm 2016, ban hành Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris tháng 10 năm 2016. Sau khi Thoả thuận Paris được các bên phê chuẩn và có hiệu lực, INDC của các bên đã trở thành Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC).

Để thực hiện các mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2359/QĐ-TTg ngày 22/12/2015 về Hệ thống quốc gia về kiểm kê khí nhà kính, là cơ sở quan trọng phục vụ công tác kiểm kê khí nhà kính tại Việt Nam, thực hiện theo quy định và hướng dẫn của quốc tế.

Từ năm 2017 đến năm 2020, thực hiện Quyết định của COP21 và ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tập trung rà soát, cập nhật NDC trên cơ sở điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ngày 24 tháng 7 năm 2020, Thủ tướng Chính phủ đã duyệt thông qua nội dung NDC cập nhật của Việt Nam để gửi Ban thư ký Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu. NDC cập nhật đã xác định những đóng góp về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và thích ứng với biến đổi khí hậu do Việt Nam cam kết, phù hợp hơn với hiện trạng, dự báo phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đến 2030; bảo đảm phù hợp với các mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và các chiến lược, quy hoạch khác có liên quan. Việc thực hiện trách nhiệm của các quốc gia trong ứng phó với biến đổi khí hậu chủ yếu thông qua Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC).

Ngoài ra, kể từ khi tham gia Thỏa thuận Paris, Việt Nam đã xây dựng, ban hành nhiều chính sách quốc gia quan trọng có liên quan đến ứng phó với biến đổi khí hậu như: Nghị quyết của Bộ chính trị về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (2020); Kết luận số 56-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường (2019); Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo Việt Nam đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 (2015); Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 có xét đến năm 2030 (Quy hoạch điện VII điều chỉnh, 2016); Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu (2016); Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững (2017); Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh giai đoạn 2016-2020 (2017)…

Ngày 20 tháng 7 năm 2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 tại Quyết định số 1055/QĐ-TTg. Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu xác định 03 nhóm nhiệm vụ, giải pháp tập trung vào 07 nhóm, lĩnh vực ưu tiên nhằm thực hiện các cam kết đóng góp của Việt Nam về thích ứng với biến đổi khí hậu, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có văn bản gửi các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức triển khai các nội dung công việc cụ thể được Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 1055/QĐ-TTg nêu trên.

Trong số các văn bản trên, Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu cụ thể hóa các cam kết quốc tế về ứng phó với biến đổi khí hậu, bao gồm 68 nhóm nhiệm vụ chủ yếu cần thực hiện đến 2030 về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, thích ứng với biến đổi khí hậu, huy động nguồn lực, tăng cường và hoàn thiện thể chế và thiết lập hệ thống công khai minh bạch trong ứng phó và hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu. Nội dung NDC đã được phản ánh toàn diện trong các phần tương ứng của Kế hoạch với các nhiệm vụ luôn đòi hỏi nỗ lực cao nhất, liên tục, phù hợp với điều kiện quốc gia và với sự điều chỉnh cam kết của Việt Nam thực hiện Thỏa thuận Paris, hướng đến nền kinh tế ít phát thải và chống chịu với biến đổi khí hậu.

Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, ban hành Kế hoạch hành động quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021-2030; Hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV) giảm nhẹ phát thải khí nhà kính cấp quốc gia; Tiêu chí xác định các dự án, nhiệm vụ thích ứng với BĐKH và đánh giá hiệu quả của các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu. Việc cập nhật Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam sẽ sớm được hoàn thành để công bố rộng rãi, để các Bộ, ngành, địa phương tham khảo trong quá trình xây dựng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của quốc gia, ngành và địa phương.

Trong thời gian tới, Chính phủ sẽ tiếp tục chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan có những giải pháp hiệu quả về thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính để từng bước hạn chế các tác động của biến đổi khí hậu.

Trước mắt, cần tập trung xây dựng, ban hành các văn bản quy định chi tiết hướng dẫn thi hành các nội dung về ứng phó với biến đổi khí hậu trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, bao gồm các quy định về thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, bảo vệ tầng ôzôn. Trong đó, xác định rõ nội dung và trách nhiệm của các Bộ, ngành, cơ quan liên quan và các địa phương về thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn; quy định chi tiết về hoạt động kiểm kê khí nhà kính. Xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính. Xây dựng hướng dẫn lồng ghép nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu vào chiến lược, quy hoạch; cơ sở dữ liệu quốc gia về biến đổi khí hậu; báo cáo quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu; thực hiện các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu và bảo vệ tầng ô-dôn.

Tích cực triển khai thực hiện các nội dung đã được đề ra trong Đóng góp do quốc gia tự thực hiện (NDC) cập nhật của Việt Nam, bao gồm cả về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và thích ứng với biến đổi khí hậu. Về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, bằng nguồn lực trong nước, đến năm 2030 Việt Nam sẽ giảm 9% tổng lượng phát thải khí nhà kính so với BAU. Mức đóng góp này có thể được tăng lên tới 27% khi nhận được hỗ trợ quốc tế thông qua hợp tác song phương, đa phương và thực hiện các cơ chế mới theo Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu. Về thích ứng với biến đổi khí hậu, cần xác định các nhiệm vụ chiến lược về thích ứng với biến đổi khí hậu, các giải pháp thích ứng nhằm giảm thiểu thiệt hại gây bởi các tác động liên quan đến những thay đổi của khí hậu trong tương lai; tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu và có giải pháp thích ứng, giảm thiểu thiệt hại thiên tai đối với các vùng, miền khác như miền núi phía Bắc, duyên hải miền Trung và Tây Nguyên.

Đẩy mạnh việc hợp tác quốc tế về ứng phó với biến đổi khí hậu và huy động, tăng cường nguồn lực đầu tư cho ứng phó với biến đổi khí hậu ở nước ta. Xây dựng các cơ chế huy động và phân bổ nguồn lực về tài chính nhằm khuyến khích và thu hút đầu tư cho thích ứng với biến đổi khí hậu; cơ chế, chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư, hỗ trợ thực hiện Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu; cơ chế, chính sách tăng cường hệ thống bảo hiểm, chia sẻ rủi ro khí hậu và thiên tai. Đầu tư thực hiện các giải pháp công trình và phi công trình phục vụ thích ứng với biến đổi khí hậu.

          Về tăng cường giám sát biến đổi khí hậu, trong đó có giám sát thiên tai nguồn gốc khí tượng thủy văn, Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trương hiện đại hóa mạng lưới quan trắc khí tượng thủy văn quốc gia theo hướng tự động hóa; phát triển đồng bộ mạng lưới trạm tự động quan trắc về khí tượng thủy văn, đo mưa, bức xạ, nông nghiệp, xâm nhập mặn theo hướng tăng dầy mật độ các trạm tự động lên 70% so với số lượng hiện có, ưu tiên phát triển tại các khu vực vùng núi các địa phương Bắc Bộ, Trung Bộ, đặc biệt là tại các khu vực thường xuyên có nguy cơ xảy ra các thiên tai liên quan đến bão, nước dâng do bão, lũ, lũ quét, sạt lở đất, hạn hán, xâm nhập mặn. Phát triển mạng lưới trạm khí tượng hải văn tự động bổ sung khu vực biển ven bờ, các trạm phao di động và phao cố định trên các vùng biển ngoài khơi. Hiện đại hóa hệ thống trạm quan trắc radar nhằm bảo đảm nâng cao chất lượng ước lượng mưa, gió; tăng cường đo đạc điều tra khảo sát địa hình lòng dẫn các hệ thống sông chính trên toàn quốc và các khu vực xói lở, bồi lấp nghiêm trọng do ảnh hưởng của thiên tai, lũ quét để phục vụ số liệu đầu vào cho các mô hình dự báo, cảnh báo thiên tai. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ trong công tác dự báo khí tượng thủy văn, trong đó ứng dụng các nội dung của cách mạng công nghiệp 4.0 trong công tác dự báo khí hậu, cảnh báo thiên tai, thời tiết cực đoan, điều tra, đánh giá tài nguyên khí tượng thủy văn và giám sát biến đổi khí hậu.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan