Thứ 6, 30/09/2022 - 17:21
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

04 nhóm nhiệm vụ giải pháp quan trọng bảo đảm thực hiện nhiệm phát triển kinh tế xã hội

Năm 2021, ngành TN&MT phấn đấu tăng tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị; tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường...

Để đạt được các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội của ngành, có 4 nhóm nhiệm vụ giải pháp trọng tâm thực hiện là:

Một là, xây dựng đồng bộ các chủ trương, chính sách, pháp luật, chiến lược, quy hoạch tạo đột phá để quản lý, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm các nguồn tài nguyên cho phát triển, giải quyết hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Thiết lập hàng rào kỹ thuật quy chuẩn, tiêu chuẩn tiệm cận các nước tiên tiến trong khu vực, chủ động phòng ngừa các nguy cơ ô nhiễm trong tiến trình hội nhập; xây dựng các giải pháp chiến lược để chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu phù hợp với điều kiện của từng vùng. Trình phê duyệt các Quy hoạch sử dụng đất quốc gia, quy hoạch không gian biển quốc gia và các quy hoạch ngành phân bổ hợp lý phát huy các nguồn lực nguồn tài nguyên trong tầm nhìn dài hạn đảm bảo không gian sinh tồn, sinh thái và không gian phát triển, tăng đóng góp cho tăng trưởng kinh tế; giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường. Xây dựng chiến lược quốc gia về tài nguyên nước, chiến lược bảo vệ môi trường, chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 để đảm bảo sự chủ động của Việt Nam trong giải quyết các thách thức.

Hai là, Nâng cao hiệu quả quản lý, phân bổ, sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài nguyên nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, cải thiện đời sống nhân dân.

Phân bổ hợp lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, huy động tốt nhất nguồn lực từ đất để phát triển đất nước; bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, của người sử dụng đất và của nhà đầu tư. Hoàn thiện hệ thống thông tin đất đai, cơ sở dữ liệu đất đai đa mục tiêu, cung cấp dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực đất đai ở các đô thị, nâng cao chỉ số tiếp cận đất đai, chỉ số “đăng ký đất đai” và “chất lượng quản lý hành chính đất đai” tăng 2 -3 bậc so với năm 2020. Triển khai các mô hình tập trung, tích tụ đất đai phù hợp với điều kiện của từng địa phương; điều tra, cải tạo khắc phục tình trạng thoái hóa đất, suy giảm chất lượng đất.

Điều tra, kiểm kê tài nguyên nước quốc gia, lập quy hoạch tài nguyên nước quốc gia và các lưu vực sông liên tỉnh; xây dựng chiến lược an ninh tài nguyên nước quốc gia và quy hoạch tài nguyên nước quốc gia. Giám sát việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải; theo dõi, đánh giá, dự báo tình hình suy thoái, cạn kiệt, xâm nhập mặn nguồn nước; thực hiện các giải pháp phòng, chống khô hạn, xâm nhập mặn, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, trước mắt ưu tiên những vùng bị ảnh hưởng nặng. Điều hoà, phân bổ nguồn nước cho các mục đích sử dụng nước bằng công cụ quan trắc, giám sát tự động trên cơ sở các quy hoạch và hạn ngạch cấp phép khai thác sử dụng nguồn nước. 

Phê duyệt Quy hoạch điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Chiến lược khoáng sản đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050. Điều tra, đánh giá đặc điểm cấu trúc địa chất, địa chất công trình, đề xuất các giải pháp khai thác, sử dụng nhất là tại các đô thị để quy hoạch phát triển công trình ngầm, phát hiện các giá trị địa chất đặc trưng để bảo tồn, phục vụ phát triển du lịch. Nghiên cứu dự báo các nguy cơ tai biến địa chất như sạt lở, sụt lún, động đất, giải pháp khai thác năng lượng từ bể than sông Hồng bằng phương pháp khí hoá. 

Tổng kết đánh giá tình hình thi hành Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; xây dựng bộ tiêu chí, chỉ tiêu thống kê quốc gia về quản lý vùng biển cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển theo chuẩn mực quốc tế. Phát triển đội tàu điều tra, khảo sát, nghiên cứu biển. Triển khai Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý rác thải nhựa đại dương đến năm 2030.

Ba là, tạo chuyển biến căn bản trong công tác quản lý, hành động bảo vệ môi trường, xây dựng nền kinh tế tuần hoàn. Thực hiện kiểm soát, bảo vệ môi trường từ trong giai đoạn đầu tư; rà soát ban hành các quy chuẩn, tiêu chuẩn để thiết lập hàng rào kỹ thuật ngăn ngừa nguy cơ ô nhiễm môi trường vào Việt Nam. Hoàn thiện cơ chế, công cụ tài chính để điều chỉnh hành vi tiêu dùng, quy định trách nhiệm của nhà sản xuất, phân phối trong thu hồi, tái chế các sản phẩm thải bỏ, lộ trình thay thế các nhiên liệu, sản phẩm sử dụng nguyên liệu nguy hại, sản phẩm sử dụng một lần bằng các nhiên liệu, nguyên liệu thân thiện với môi trường. Phát triển công nghiệp môi trường, dịch vụ BVMT và tái chế chất thải, thí điểm phát triển một số đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất theo mô hình tuần hoàn, ít phát thải. Triển khai xây dựng hệ thống quan trắc về môi trường. Đẩy mạnh thực hiện các chương trình, kế hoạch khắc phục ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường: thực hiện giải pháp cải thiện chất lượng không khí thông qua kiểm kê, kiểm soát, di dời các nguồn ô nhiễm, nâng cao quy chuẩn phương tiện giao thông; đảm bảo quy chuẩn quy hoạch cây xanh, không gian công cộng trong các đô thị, khu dân cư, nhất là các thành phố lớn. Đẩy nhanh tiến độ triển khai chương trình cải thiện môi trường lưu vực sông.

Bốn là, hiện đại hóa, tăng dày mạng lưới khí tượng thủy văn, trạm ra ra, mạng lưới quan trắc, hệ thống đo mưa,…Thực hiện phân tích, tăng cường chất lượng dự báo xa; cảnh báo kịp thời các hiện tượng thời tiết, thủy văn cực đoan, nguy hiểm phục vụ phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai. Dự báo diễn biến dòng chảy, thủy văn, cảnh báo sớm chi tiết đối các đợt mưa lũ lớn để chỉ đạo vận hành an toàn hồ chứa thủy lợi, thủy điện, hồ đập, đê điều. Thực hiện xã hội hóa trong cung cấp dịch vụ dự báo khí tượng thủy văn. Ứng dụng công nghệ, xây dựng các mô hình, phương thức hiệu quả để truyền tin, cảnh báo thiên tai.

Triển khai thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu. Triển khai các giải pháp tổng thể để xử lý tình trạng sạt lở, xâm thực biển, hạn hán, xâm nhập mặn do biến đổi khí hậu gây ra ở Duyên hải Nam Trung bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và Tây nguyên.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan