Chủ nhật, 22/05/2022 - 07:32
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Một số điểm mới của Thông tư số 17/2021/TT-BTNMT quy định về giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước

Ngày 14/10/2021, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 17/2021/TT-BTNMT quy định về giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước. Thông tư ban hành thay thế Thông tư số 47/2017/TT-BTNMT ngày 07/11/2017 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường nhằm đáp ứng các yêu cầu cần thiết phục vụ cho hoạt động quản lý ngành tài nguyên nước cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp triển khai thực hiện. Có 05 điểm mới lớn của Thông tư nhằm giải quyết những vấn đề bất cập mà trước đó chưa giải quyết được.

 

Thứ nhất là Phạm vi điều chỉnh và Đối tượng áp dụng của Thông tư, cụ thể bổ sung quy định điều chỉnh cho tổ chức, cá nhân có công trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước (trừ khai thác, sử dụng nước biển) thuộc một trong các trường hợp phải có giấy phép: (1)Công trình hồ chứa khai thác nước mặt để phát điện với công suất lắp máy trên 50 kW, bao gồm cả hồ chứa thủy lợi kết hợp với phát điện; (2) Công trình hồ chứa khai thác nước mặt có quy mô trên 0,1 m3 /giây đối với trường hợp cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản; trên 100 m3 /ngày đêm đối với trường hợp cấp nước cho các mục đích khác; (3) Công trình cống, trạm bơm và các công trình khai thác nước mặt khác có quy mô trên 0,1 m3/giây đối với trường hợp cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản; trên 100m3 /ngày đêm đối với trường hợp cấp nước cho các mục đích khác; (4) Công trình khai thác nước dưới đất với quy mô trên 10m3 /ngày đêm.

Theo đó, sửa lại đối tượng áp dụng của Thông tư theo hướng áp dụng đối với cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc giám sát hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước (trừ khai thác, sử dụng nước biển).

Thứ hai, Thông tư đã bổ sung, sửa đổi quy định cụ thể hơn về các thành phần của hệ thống giám sát, bao gồm: Hệ thống hạ tầng mạng, máy chủ; phần mềm quản lý giấy phép, giám sát việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước ở trung ương, địa phương và cơ sở dữ liệu của hệ thống giám sát nhằm tạo sự thống nhất, đồng bộ, làm cơ sở thuận lợi để các địa phương triển khai xây dựng hệ thống giám sát, đặc biệt bổ sung phần cơ sở dữ liệu thông tin giấy phép tài nguyên nước dùng chung của trung ương và địa phương để bảo đảm sự thống nhất trong quản lý, sử dụng dữ liệu giấy phép khai thác tài nguyên nước. Hệ thống giám sát sẽ được kết nối, lưu trữ bao gồm: giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt, giấy phép khai thác, sử dụng nước dưới đất, giấy phép xả nước thải vào nguồn nước, giấy phép thăm dò nước dưới đất và giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trên cả nước.

Thứ ba, quy định việc chia sẻ, khai thác dữ liệu giám sát tài nguyên nước phù hợp với các quy định về chia sẻ dữ liệu số hiện nay, theo đó các dữ liệu giám sát tài nguyên nước được chia sẻ tại trung ương và tại địa phương bảo đảm yêu cầu kết nối, chia sẻ dữ liệu theo quy định về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước; Hệ thống giám sát ở trung ương bảo đảm kết nối, chia sẻ dữ liệu với Hệ cơ sở dữ liệu quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia, các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu khác theo kiến trúc Chính phủ điện tử ngành tài nguyên và môi trường; chia sẻ dữ liệu với hệ thống giám sát tại địa phương đối với các cơ sở khai thác, sử dụng tài nguyên nước đặt trên địa bàn của địa phương và hệ thống giám sát ở địa phương bảo đảm kết nối, chia sẻ dữ liệu với hệ thống giám sát ở trung ương.

Thứ tư, sửa đổi, bổ sung phân chia lại các quy mô đối với công trình khai thác nước dưới đất và quy định cụ thể thông số, hình thức, tần suất giám sát phù hợp theo từng quy mô khai thác của công trình (phân chia các mức quy mô khai thác: 10-200 m3/ngày đêm, 200-1.000 m3/ngày đêm, 1.000-3.000 m3/ngày đêm và trên 3.000 m3/ngày đêm), giảm tần suất giám sát định kỳ xuống 1 lần/ ngày (trước đây quy định tần suất giám sát 02 lần/ngày), tăng quy mô phải giám sát tự động, trực tuyến thông số lưu lượng, mực nước lên 1.000 m3/ngày đêm (trước đây quy định công trình có quy mô từ 200 m3/ngày đêm trở lên phải giám sát tự động, trực tuyến lưu lượng, mực nước). Đồng thời,  đã bổ sung quy định để giải quyết đối với các thông số giám sát đối với các loại hồ chứa để phát điện; sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và cho các mục đích khác, cụ thể các thông số được quy định lỏng hơn, ví dụ đối với thông số lưu lượng xả duy trì dòng chảy tối thiểu. Tương tự, đối với công trình cống, trạm bơm cũng quy định lỏng hơn đối với thông số chất lượng nước. Ngoài ra, giải quyết tồn tại đối với các giếng khoan được xây dựng trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành mà không lắp đặt được thiết bị đo mực nước tự động hoặc không đo được mực nước thủ công thì có giải pháp bổ sung giếng quan trắc để bảo đảm việc giám sát theo quy định

 Thứ năm, bổ sung quy định về chuyển tiếp nhằm tháo gỡ khó khăn đối với cơ quan quản lý nhà nước và cơ sở khai thác, sử dụng tài nguyên nước trong việc triển khai thực hiện Thông tư số 47/2017/TT-BTNMT do ảnh hưởng của đại dịch Covid - 19 mà các địa phương và tổ chức, cá nhân đã đề xuất, trong đó đã quy định lùi thời hạn hoàn thành việc xây dựng hệ thống giám sát (đối với cơ quan nhà nước) đến trước ngày 30 tháng 9 năm 2023 (do hầu hết các địa phương hiện nay chưa hoàn thành xây dựng hệ thống giám sát) và thời hạn hoàn thành việc lắp đặt thiết bị (đối với cơ sở khai thác, sử dụng tài nguyên nước đã vận hành) đến trước ngày 31 tháng 12 năm 2023. Đồng thời bổ sung quy định để giải quyết tồn tại, vướng mắc trong việc thực hiện lắp đặt thiết bị, thực hiện quan trắc tự đối với công trình hồ chứa phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và các mục đích khác theo hướng gia hạn thời gian hoàn thành đến 31 tháng 12 năm 2025.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan