Thứ 2, 23/05/2022 - 10:08
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Những điểm mới trong quy định về cấp độ rủi ro thiên tai

Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg ngày 22 tháng 4 năm 2021 quy định về dự báo, cảnh báo, truyền tin thiên tai và cấp độ rủi ro thiên tai và đã có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

 

      Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg quy định về dự báo, cảnh báo, truyền tin thiên tai và cấp độ rủi ro thiên tai được ban hành thay thế 02 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, trong đó có Quyết định số 44/2014/QĐ-TTg ngày 15 tháng 8 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết về cấp độ rủi ro thiên tai. Ngày 01 tháng 7 năm 2021, Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg có hiệu lực, cùng tìm hiểu các quy định về cấp độ rủi ro thiên tai được sửa đổi, bổ sung trong Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg.

      Quy định về cấp độ rủi ro thiên tai được điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với thực tế và yêu cầu của công tác phòng, chống thiên tai. Các nội dung điều chỉnh tập trung vào chi tiết cường độ thiên tai cho các khu vực; khả năng gây thiệt hại của các loại hình thiên tai được lồng ghép vào vùng ảnh hưởng của thiên tai và được chi tiết hơn so với quy định cấp độ rủi ro thiên tai hiện hành. Một số loại hình thiên tai như lũ quét, sạt lở đất, sụt lún đất do mưa lũ, hoặc dòng chảy có cùng nguyên nhân kích hoạt giống nhau là do mưa lớn, phạm vi khu vực xảy ra tương đồng nên được được ghép lại để xây dựng cấp độ rủi ro thiên tai; Bổ sung quy định cấp độ rủi ro thiên tai do cháy rừng do tự nhiên. Để tránh hiểu nhầm trong quá trình thực hiện, các quy định về cấp độ rủi ro thiên tai được bổ sung từ “dự báo” hoặc “cảnh báo” vào trước quy định cấp độ rủi ro của các loại thiên tai. Những nội dung sửa đổi chi tiết như sau:

      Về cấp độ rủi ro do bão, áp thấp nhiệt đới, Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg đã chi tiết hóa các khu vực ảnh hưởng trên đất liền; điều chỉnh phân cấp chi tiết hơn từ cấp 12-15 thành 12-13 và 14-15.

      Về cấp độ rủi ro do nước dâng: Bỏ cấp độ rủi ro 1; Chi tiết hóa khu vực ảnh hưởng theo 8 vùng biển của Việt Nam; Điều chỉnh độ cao mực nước ven biển từ 1-2, 2-4, 4-6, 6-8m và trên 8m thành 1-2, 2-3, 3-4, 4-5, 5-6 và trên 6m.

      Về cấp độ rủi ro do mưa lớn: Bổ sung cấp độ rủi ro 4; Điều chỉnh lượng mưa trong 24 giờ và bổ sung cường độ mưa 50-100/12 giờ; Bổ sung khu vực ảnh hưởng “ven biển”; bổ sung thời gian kéo dài “trên 4 ngày”.

      Về cấp độ rủi ro do lũ, ngập lụt: Điều chỉnh khu vực xảy ra lũ, ngập lụt từ theo các sông thành theo các trạm thủy văn; Mực nước lũ: bổ sung “BĐ1 ≤ BĐ2”, chia nhỏ khoảng cách BĐ3+1m thành “BĐ3-BĐ3+0,3m” và (BĐ3+0,3m) ≤ (BĐ3+1,0m).

      Về cấp độ rủi ro do lũ quét, sạt lở đất, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy: Ghép thiên tai “sụt lún đất do mưa lũ hoặc  dòng chảy” với “sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy” để xác định cấp độ rủi ro thiên tai; Bổ sung cơ sở xác định (phân vùng nguy cơ xảy ra lũ quét, khu vực chịu ảnh hưởng dựa trên kết quả nghiên cứu của Viện KTTV và Viện ĐCKS).

      Về cấp độ rủi ro do nắng nóng: Tăng cấp độ rủi ro thiên tai lên cấp 4; Cấp độ rủi ro: bổ sung khu vực ảnh hưởng (Bắc Bộ, Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ); điều chỉnh thời gian kéo dài lên đến 25 ngày và trên 25 ngày; Điều chỉnh chi tiết hóa khoảng nhiệt độ cao nhất ngày (từ 39-40 độ và trên 40 độ thành 35-37 độ, 37-39 độ, 39-41 độ và trên 41 độ).

      Về cấp độ rủi ro do hạn hán hoặc sạt lở sụt lún đất do hạn hán: Bổ sung khu vực ảnh hưởng (Bắc Bộ, Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ); Điều chỉnh khoảng thời gian thiếu hụt mưa trên 50% trong khu vực (từ 3-6 tháng và trên 6 tháng thành từ 3-5 tháng và trên 5 tháng).

      Về cấp độ rủi ro do xâm nhập mặn: Tăng từ 2 cấp độ lên 4 cấp độ; Bổ sung khu vực ảnh hưởng (Bắc Bộ, Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ); Điều chỉnh chi tiết khoảng cách xâm nhập mặn tính từ cửa sông (từ 25-50km và trên 50km thành từ 15-25km, 25-50km, 50-90km và trên 90km); Bổ sung độ mặn 1‰.

      Về cấp độ rủi ro do gió mạnh trên biển: Bỏ cấp độ rủi ro thiên tai cấp 1; Chi tiết cấp gió (từ 2 khoảng lên thành 3 khoảng).

      Về cấp độ rủi ro do sương mù: Giảm cấp độ rủi ro thiên tai ( từ 3 cấp xuống 2 cấp); Phạm vi ảnh hưởng: bổ sung theo vùng hoạt động của các phương tiện giao thông (trên sông và đường đèo núi và đường cao tốc).

      Về cấp độ rủi ro do sóng thần: Bổ sung cấp độ rủi ro thiên tai 1 và 2; Cấp độ rủi ro thiên tai được xác định theo chiều cao sóng và cường độ sóng thần.

      Ngoài ra, xây dựng mới cấp độ rủi ro do cháy rừng tự nhiên. Về cấp độ rủi ro do lốc, sét, mưa đá, bổ sung phạm vi ảnh hưởng và khu vực ảnh hưởng chi tiết theo số huyện và xã trong một tỉnh.

      Bên cạnh đó, Quyết định số 18/2020/QĐ-TTg cũng có các quy định sửa đổi, bổ sung về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc dự báo, cảnh báo và truyền tin thiên tai, theo đó, trách nhiệm Bộ Tài nguyên và Môi trường được quy định rõ hơn, giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về cấp độ rủi ro thiên tai, dự báo, cảnh báo và truyền tin thiên tai, không bao gồm thiên tai cháy rừng do tự nhiên.

      Trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được bổ sung nội dung chỉ đạo Tổng cục Lâm nghiệp nghiệp ban hành bản tin dự báo, cảnh báo cháy rừng do tự nhiên; xây dựng, lắp đặt trạm hoặc bổ sung thêm các thiết bị quan trắc khí tượng để phục vụ công tác dự báo, cảnh báo cháy rừng.

      Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp xã bổ sung chỉ đạo Đài truyền thanh cấp xã thực hiện các quy định về truyền tin thiên tai có liên quan trực tiếp đến địa phương.

      Quyết định không quy định trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân quản lý các công trình hồ chứa (Điều 37 của Quyết định số 03/2020/QĐ-TTg) vì quy định cung cấp các thông tin vận hành hồ phục vụ công tác dự báo, cảnh báo thủy văn đã được quy định tại Nghị định số 48/2020/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 38/2016/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Khí tượng thủy văn.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan